Cháo Loãng Tro Tàn
Sương mù buổi sớm mai trên đỉnh Tây Nhạc không còn mang cái lạnh tinh khiết của tuyết đầu mùa, mà đặc quánh một thứ mùi tanh nồng của đất ẩm và rỉ sắt. Cái lạnh luồn qua những kẽ đá sập của căn thảo lư hoang tàn, len lỏi xuống tận mật thất lò rèn ngầm sâu dưới lòng đất. Dưới ánh lửa tù mù từ hũ mỡ sói sắp cạn, Mộ Dung Khô nằm bất động trên tấm phản gỗ mục. Toàn thân ông lạnh ngắt, cơ thể tàn phế rệu rã sau trận chiến bộc phát vạn kiếm trận hôm trước giờ đây như một khúc cây khô không còn chút sinh khí. Cánh tay phải cụt ngủn bị hoại tử nhói lên từng cơn đau buốt thấu xương tủy, nhưng đáng sợ hơn là cánh tay trái—bàn tay lành lặn duy nhất của ông—đang hoàn toàn mất đi xúc giác nóng lạnh. Đây là ngày thứ hai của thời hạn ba ngày sau khi chịu đựng Liệu pháp châm cứu nối mạch khốc liệt của Tống Từ Phong. Ông có thể cử động nhẹ các ngón tay, nhưng khi chạm vào mặt phản gỗ đóng băng hay hơi nóng hầm hập từ lò than dập dở, ông chỉ cảm thấy một khoảng không vô tri, trống rỗng.
“Khục... khục...”
Mộ Dung Khô khẽ ho khan, một ngụm máu đen nhạt rỉ ra nơi khóe miệng, thấm vào dải băng gạc đen quấn chặt quanh bả vai phải cụt ngủn. Giới Hạn Kinh Mạch Tàn đang khóa chặt cơ thể ông trong một cơn liệt tạm thời. Ông không thể ngồi dậy, không thể vận khí, ngay cả việc nâng cán cây chổi tre rách gác bên phản cũng trở nên bất khả thi. Thế nhưng, giữa sự bất lực tột cùng của thể xác, ngũ quan của vị đại tông sư ẩn thế lại nhạy bén đến mức đáng sợ. Đôi tai to bất thường của ông lắng nghe từng tiếng động nhỏ nhất phía trên trần hầm gỗ dột nát. Tiếng bước chân khập khiễng của Lão Tôn bộc, tiếng thở khò khè đầy đau đớn của Lưu Đại Tráng đang chống chọi với phong phong độc, và tiếng Thím Ba đang lách cách dọn dẹp nồi niêu.
Phía trên thảo lư, Thím Ba đang tất tả bên bếp lò đất nung quấn dây đồng cũ kỹ. Gương mặt người phụ nữ góa bụa hằn sâu những nếp nhăn của sự lo âu, đôi bàn tay bám đầy tro bếp run rẩy múc những gáo nước từ chiếc vò đất nung lớn. Đó là vò nước sạch duy nhất còn lại mà A Sâm đã liều mạng gánh về từ Giếng nước cổ Tây Nhạc vào lúc nửa đêm, lách qua làn sương mù dày đặc và trạm gác cố định của Mã Tiến. Thím Ba không hề hay biết rằng, dưới đáy lòng giếng cổ rêu phong ấy, bột độc thủy ngân cực độc của Khô Lâu Đạo Nhân đã hòa tan hoàn toàn, biến dòng nước ngọt mát lạnh thành một thứ tử dịch sủi bọt xanh lam nhạt.
“Nước này... sao hôm nay vị lạ thế nhỉ?” Thím Ba lầm bầm, khẽ đưa tay múc một ngụm nhỏ để nếm thử độ ấm trước khi đổ vào nồi nấu cháo loãng. Nước giếng cổ vốn có vị tanh nhẹ của quặng sắt, nhưng ngụm nước hôm nay lại mang một vị ngọt lịm kỳ lạ, kèm theo một luồng khí lạnh buốt chạy thẳng xuống cuống họng.
Bà không nghĩ nhiều. Giữa cơn đói rét đang bóp nghẹt nghĩa trang, chút gạo thô biên trấn cuối cùng lẫn đầy sạn cát đã được đổ vào chiếc nồi đất nung cũ nứt nẻ. Thím Ba nhóm lửa bằng những nắm lá thông khô Tây Nhạc nhặt được ngoài thềm đá. Lửa bùng lên, khói nhạt tỏa ra mang theo mùi thơm của cám gạo quyện lẫn mùi lá thông cháy ấm áp. Bà múc một bát cháo loãng nóng hổi, bưng đến bên phản gỗ nơi Lưu Đại Tráng đang nằm co giật nhẹ vì vết thương bả vai hoại tử rỉ mủ vàng.
“Đại Tráng, cố nuốt vài thìa cháo nóng để lấy sức. Tống thần y nói bả vai của cháu phải rửa bằng nước sạch này thì mới mong trục được phong độc...” Thím Ba đỡ đầu Đại Tráng lên, múc một thìa cháo loãng đưa sát vào môi gã thợ săn.
Sâu dưới lòng đất ba thước, Mộ Dung Khô đột ngột mở bừng mắt.
Khứu giác đặc dị của ông—năng lực Cảm nhận độc rỉ bẩm sinh của dòng họ Mộ Dung—vừa bị kích hoạt bởi luồng hơi nước bốc lên từ khe đất nứt sát chân đe sắt nặng ngàn cân. Mùi thơm của cháo loãng và lá thông khô không thể che giấu được một thứ mùi hăng hắc, tanh nồng cực kỳ nhạy bén bốc lên từ nồi cháo. Đó là mùi của bột quặng thủy ngân bị nung nóng, thứ mùi độc tính kiềm nóng ăn mòn kim loại mà mẫu thân Tần Nhược Lan từng dạy ông cách nhận biết từ thuở nhỏ.
“Độc thủy ngân... Độc rỉ sắt hoại tử!”
Tâm trí Mộ Dung Khô chấn động dữ dội. Sát ý vô hình lạnh buốt bùng lên trong đồng tử đục ngầu. Ông biết rõ, nếu Lưu Đại Tráng và các kiếm bộc già ăn phải nồi cháo kia, chất độc sẽ ăn mòn tâm mạch, khiến họ liệt cơ khớp chân tay và nôn ra máu đen mà chết trong vòng ba canh giờ. Ông phải báo động. Ông phải cứu họ.
Nhưng cơ thể ông đang bị liệt hoàn toàn.
Mộ Dung Khô nghiến chặt răng đến mức máu tươi từ nướu chảy ra đỏ thẫm khóe môi. Ông không thể vận chân khí để truyền âm, bởi chỉ cần một tia lực nhỏ đi chệch hướng, bả vai phải hoại tử của ông sẽ nổ tung vĩnh viễn. Ông chỉ có thể dùng sức mạnh vật lý thô sơ nhất của thể xác tàn phế.
Bằng một nỗ lực phi thường vượt qua giới hạn sinh học, Mộ Dung Khô dùng răng cắn chặt vào mép tấm phản gỗ mục, mượn lực ghì đầu xuống, dùng cằm và bả vai trái không còn cảm giác nóng lạnh để lết thân thể tàn phế xuống đất. Từng tấc di chuyển là một tầng địa ngục đau đớn. Vết rách kinh mạch bả vai phải cụt ngủn lan rộng ra lồng ngực, máu tươi rỉ ra thấm đẫm dải băng gạc đen, nhuộm đỏ cả vạt áo vải thô xám tro rách rưới. Ông lết qua nền đất ẩm ướt đầy bụi than, hướng về phía lối vào ngầm mật đạo ngay dưới chân chiếc đe sắt khổng lồ.
“Ầm! Rầm!”
Mộ Dung Khô dùng đầu và bả vai trái dồn toàn lực húc mạnh vào chốt gỗ chịu lực ngầm của đe sắt. Chiếc đe nặng ngàn cân khẽ dịch chuyển, để lộ một khe hở nhỏ hẹp dẫn lên thảo lư.
Phía trên nhà tranh, Thím Ba vừa đưa thìa cháo loãng sát môi Lưu Đại Tráng thì đột nhiên, bà cảm thấy lồng ngực thắt lại dữ dội. Thìa cháo rơi rầm xuống đất sành vỡ tan. Thím Ba ngã quỵ bên nồi cháo loãng, hai bàn tay co quắp đen kịt, bọt mép lẫn máu đen nhạt trào ra nơi khóe miệng. Chất độc thủy ngân cực mạnh từ ngụm nước nếm thử lúc nãy đã bắt đầu tàn phá lục phủ ngũ tạng của bà.
“Thím Ba! Có chuyện gì thế này?” A Bảo hoảng hốt lao đến đỡ thím Ba dậy, trong khi Lão Tôn bộc và các kiếm bộc già nua xung quanh bắt đầu run rẩy sợ hãi.
“Đừng... đừng ăn...” Một giọng nói khàn đặc, trầm đục như tiếng sắt rỉ cọ xát vào nhau vọng lên từ khe nứt dưới chân đe sắt.
Mộ Dung Khô dùng cánh tay trái không cảm giác bám chặt vào bậu cửa ngầm, lết nửa thân người tàn phế lên mặt đất thảo lư. Gương mặt ông xám xịt như tro tàn, đôi mắt vô thần rực sáng hai luồng kiếm quang tĩnh lặng khóa chặt nồi cháo đang bốc khói độc hăng hắc.
“Nước giếng... bị đầu độc thủy ngân cực mạnh. A Bảo... gom toàn bộ lá thông khô Tây Nhạc ngoài thềm... mau!” Mộ Dung Khô thều thào ra lệnh, từng lời nói đều khiến lồng ngực ông thắt chặt, máu đen rỉ ra đầy miệng.
A Bảo nhìn thấy vết máu đen dính đầy bột độc xanh lam nhạt trên môi Thím Ba, lập tức hiểu ra đại họa. Cậu thiếu niên nhanh nhẹn lách qua cửa liếp rách, vơ lấy những nắm lá thông khô dính đầy sương muối lạnh giá ném lên thềm đất nện bên cạnh Mộ Dung Khô.
Mộ Dung Khô dùng bàn tay trái sừng hóa đen kịt—bàn tay hoàn toàn không cảm nhận được cái lạnh buốt của sương muối bám trên lá thông—giã nát nắm lá thông khô trộn lẫn với một ít nước giếng quặng sắt lạnh buốt còn sót lại trong chiếc hũ đất nung cũ. Kỹ năng đúc đẽo và rèn huyền thiết mười năm qua giúp đôi bàn tay phế nhân của ông có một lực bóp kinh người. Ông nghiền nát lá thông thành một thứ nước cốt màu xanh đen, tanh nồng vị axit lạnh của quặng sắt.
“Ép... ép bà ấy uống!” Mộ Dung Khô đẩy chiếc hũ đất nung về phía A Bảo.
A Bảo run rẩy đỡ đầu Thím Ba lên, đổ toàn bộ thứ nước cốt lá thông đắng ngắt, lạnh buốt vào miệng bà. Nước cốt lá thông có tính axit lạnh cực mạnh lập tức phản ứng với bột thủy ngân có tính kiềm nóng trong dạ dày Thím Ba.
“Oẹ... khục... khục!”
Thím Ba gập người nôn thốc nôn tháo. Từng ngụm dịch vị đen kịt, tanh nồng mùi thủy ngân hoại tử bị tống sạch ra ngoài nền đất nện, sủi bọt xanh lam nhạt rồi ngấm dần vào tro tàn bếp lửa. Gương mặt co quắp của bà dần bình ổn trở lại, hơi thở đứt quãng bắt đầu đều đặn hơn dù cơ thể vẫn còn run rẩy yếu ớt.
“Cứu được rồi...” Lão Tôn bộc thở phào nhẹ nhõm, quỳ sụp xuống cạnh Thím Ba.
Thế nhưng, cái giá phải trả là cực kỳ thảm khốc. Mộ Dung Khô ngã gục xuống bên cạnh đe sắt nặng ngàn cân, toàn thân co rút dữ dội. Kinh mạch bả vai phải cụt ngủn của ông bị rách nứt sâu thêm một đoạn lớn do cú húc bộc phát lực lúc nãy. Máu tươi đỏ thẫm ướt đẫm dải băng gạc đen, chảy loang lổ trên bề mặt đe sắt hắc thiết rỉ sét. Cơn đau buốt thấu xương tủy khiến ông liệt hoàn toàn chân trái, lồng ngực phập phồng thở dốc đầy đau đớn.
Tống Từ Phong từ hầm ngầm lướt lên, gương mặt kiêu ngạo hằn sâu sự trầm trọng. Ông ta nhanh tay châm thêm ba cây huyền thiết châm dài hai tấc vào các tử huyệt quanh khớp vai của Mộ Dung Khô để cầm máu.
“Lão Khô, ông điên rồi! Ta đã cảnh báo kinh mạch tay trái của ông mỏng manh như sợi chỉ tre mục. Cú bộc phát lực vừa rồi đã mài mòn thêm một phần mười sinh mệnh liên kết của ông!” Tống Từ Phong gầm lên nhè nhẹ.
Mộ Dung Khô không đáp. Ông khẽ nhắm mắt, dùng thính giác siêu phàm cảm nhận tiếng nước ngầm chảy róc rách sâu dưới lòng đất lò rèn ngầm của mình. Tiếng nước ngầm chảy qua các khe đá vôi ẩm ướt bỗng phát ra những tiếng sủi bọt “xèo... xèo...” kỳ lạ, mang theo mùi thủy ngân hoại tử nồng nặc đang tràn vào bể tôi thép lạnh.
Ông mở mắt ra, nhìn về phía lối vào mật đạo ngầm dưới chân đe sắt, ánh mắt ngập tràn sự tuyệt vọng câm lặng.
Mạch nước ngầm dẫn vào lò rèn ngầm của ông—nguồn nước tôi luyện huyền thiết lạnh duy nhất để đúc chế các chốt chịu lực cho trận nhãn Kiếm Trủng—đã hoàn toàn bị nhiễm độc thủy ngân đen ngòm hôi thối.
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên!