Sương Độc Đầm Lầy
Vệt bánh xe bò lăn bánh chậm rãi vào lòng sương độc ngập mặn của Đầm lầy Chết, nơi những hố bùn lún cát không đáy đang chờ đợi kẻ đi sai một bước chân.
Dưới đáy ván gỗ hẹp hòi của chiếc xe chở phân ngựa, Phùng Thiệu Phong nằm bất động, hai tai lùng bùng bởi tiếng sấm truyền sa trường từ móng sắt của năm mươi thiết kỵ Đại triều dồn dập đuổi sát phía sau. Mùi phân khô nồng nặc và hôi thối xộc thẳng vào mũi hắn, nhưng lúc này, đó lại là thứ mùi hương bảo mạng duy nhất che giấu đi mùi máu tươi đang rỉ ra từ vết rách da bên hông trái của hắn.
Cơn đau từ ngón tay út bàn tay trái bị giẫm nghiền nát xương từ trận bạo hành của Khâu Hữu Lợi giật lên từng hồi dữ dội. Mỗi nhịp xóc nẩy của bánh xe bò trên nền đất sỏi đá là một lần khớp xương dập nát cọ xát vào thớ thịt rách rưới, buốt thấu tận tâm can. Thiệu Phong cắn chặt vạt áo quan phục cửu phẩm rách nát, mồ hôi lạnh hòa cùng nhọ nồi chảy ròng ròng trên trán, nén chặt tiếng rên rỉ ngay trong cuống họng. Hắn không được phép ngất đi, cũng không được phép ho khan, dù phế quản đã bắt đầu bỏng rát bởi làn sương độc ngập mặn đầu tiên tràn vào khe ván.
"Két..."
Chiếc xe bò đột ngột dừng lại. Tiếng vó ngựa kéo xe thở phì phò trong đêm lạnh. Từ phía trên, một bàn tay thô ráp bám đầy bùn đất khẽ gõ ba nhịp ngắn vào thành ván gỗ. Đó là tín hiệu của ngoại tộc dịch sinh A Ba Chi.
Thiệu Phong nén đau, dùng tay phải lành lặn bám vào rìa ván, nghiêng người lách ra khỏi đáy xe hai tầng hẹp hòi. Hắn ngã sụp xuống bãi bùn lầy lạnh ngắt, hơi thở dồn dập. Trước mắt hắn, Đầm lầy Chết hiện ra dưới màn sương mù dày đặc đêm đông như một cái miệng khổng lồ của loài quái thú cổ xưa, u ám, tĩnh lặng và đầy sát khí. Làn sương độc ngập mặn màu xám đục, bốc lên từ những bãi bùn chứa đầy muối mỏ lộ thiên, mang theo mùi lưu huỳnh và muối thối nồng nặc.
"Phùng đại nhân, ngựa kéo xe không chịu đi tiếp. Bản năng của loài thú bảo chúng rằng phía trước là tử địa." A Ba Chi rỉ tai Thiệu Phong, giọng nói lầm lì mang theo sự tự ti nhưng đầy kinh nghiệm của kẻ lai Hung Nô bị ruồng bỏ. Đôi mắt xanh lá cây nhạt của gã láo liên nhìn vào màn sương mù, đôi tai nhạy cảm khẽ động đậy.
"Tiếng vó ngựa của Triệu Vô Kỵ... chỉ còn cách chúng ta chưa đầy nửa dặm đường cát. Gió đang thổi về hướng Nam, gã đang dùng la bàn truy phong theo dấu vết máu của ngài."
Thiệu Phong ho khan một tiếng nhỏ, lồng ngực đau thắt như có hàng ngàn mũi kim châm. Hắn thọc tay vào ngực áo tơi rách nát, rút ra một lá thuốc hoang dã màu xanh sẫm mà y sĩ Ô Nhã từng đưa cho. Hắn nhét lá thuốc vào miệng, nhai ngấu nghiến. Vị đắng chát, tê dại của nhựa cây lập tức lan tỏa trong khoang miệng, làm dịu đi cơn phế quản phồng rộp do hít phải sương độc, giúp hắn giữ vững sự tỉnh táo tối thiểu.
"A Ba Chi, chúng ta bỏ xe bò lại. Ngươi dắt con ngựa kéo xe đi theo ta." Thiệu Phong khàn giọng ra lệnh, tay phải rút tấm Bản đồ Thung lũng Sương Mù vẽ tay chi tiết của ẩn sĩ Ôn Như Ngọc ra khỏi bọc da dê.
Hắn trải tấm bản đồ da cừu cũ kỹ dưới ánh sáng mờ nhạt của trăng khuyết bị sương mù che khuất. Thiệu Phong nhắm mắt lại một giây, kích hoạt kỹ năng Dư đồ tâm bản. Trong trí não hắn, từng nét vẽ mực đen tinh xảo của Ôn Như Ngọc hiện lên rõ ràng, trùng khớp hoàn hảo với địa hình thực tế của Đầm lầy Chết. Đây không đơn thuần là một bãi bùn lầy ngập nước, mà là một mê cung tự nhiên được kiến tạo bởi các mạch nước ngầm ngập mặn xói mòn lòng đất sét trắng qua hàng trăm năm.
"Giữa hai hàng lau sậy cao quá đầu người phía Đông Bắc..." Thiệu Phong mở mắt, ngón tay trỏ chỉ thẳng vào một khoảng đất trống phẳng lặng phủ đầy sương muối xám xịt trên bản đồ. "Nơi đó trông có vẻ khô ráo và bằng phẳng nhất, nhưng thực chất lại là hố bùn lún không đáy khổng lồ. Cát sét ngập mặn ở đó có tính chất hóa lỏng cực nhanh dưới lực nén mạnh. Kỵ binh nặng mang giáp sắt của Triệu Vô Kỵ một khi sa chân vào đó, trọng lượng của người và ngựa chiến sẽ tự biến nơi đó thành ngôi mộ chôn sống họ."
A Ba Chi rùng mình nhìn khoảng đất bằng phẳng phẳng lặng phía xa, gật đầu nể phục: "Nhưng Triệu Vô Kỵ là thống lĩnh lão luyện, gã sẽ không dễ dàng dẫn quân đi vào vùng đất nguy hiểm nếu không thấy dấu vết của chúng ta đi trước."
Thiệu Phong khẽ mỉm cười, ánh mắt sắc sảo lóe lên tia sáng lạnh lùng chốn quan trường biên ải:
"Chúng ta sẽ dọn sẵn một lối đi mời gã vào. A Ba Chi, dùng cành tùng bẻ từ bìa rừng phía sau buộc chặt vào đuôi con ngựa kéo xe. Ngươi dắt thớt ngựa chiến tốt nhất của Tiền Vạn Lịch tặng đi sát mép đá cứng bên trái, còn con ngựa kéo xe buộc cành tùng thì xua nó chạy thẳng vào con đường cát lún giữa hai hàng lau sậy kia!"
Đây chính là phương pháp Xóa dấu vết bằng cành tùng mà A Ba Chi từng truyền dạy dã ngoại, nhưng lần này, Thiệu Phong đã nghịch đảo chiến thuật. Thay vì xóa dấu vết để lẩn trốn, hắn dùng cành tùng quét trên cát để tạo ra những vệt kéo dài, giả mạo như dấu vết của một đoàn người đang hoảng loạn dùng cành cây che giấu vết chân ngựa chiến chạy trốn vội vã.
A Ba Chi lập tức hiểu ra mưu kế tàn nhẫn nhưng hoàn hảo này. Gã nhanh nhẹn bẻ những cành tùng rậm rạp bám đầy tuyết lạnh, dùng dây thừng bện cỏ tranh buộc chặt vào đuôi con ngựa kéo xe bò cũ. Thiệu Phong dùng con dao găm bằng xương sói của A Ba Chi khẽ rạch một đường nhỏ trên vai thớt ngựa kéo xe, khiến máu tươi rỉ ra, nhỏ giọt xuống cát nóng.
"Chạy đi!"
A Ba Chi quất mạnh roi da vào mông thớt ngựa kéo xe. Con thú bị đau, hí lên một tiếng vang dội sa trường, phi nước đại thẳng vào con đường phẳng lặng giữa hai hàng lau sậy cao quá đầu người. Cành tùng buộc sau đuôi nó quét mạnh xuống cát sỏi, tạo ra một vệt ngụy trang hoàn hảo kéo dài, kèm theo những giọt máu tươi rỉ ra dọc đường đi.
Trong khi đó, Thiệu Phong và A Ba Chi dắt thớt chiến mã còn lại, bước đi cực kỳ cẩn thận sát mép đá vôi dựng đứng bên trái thung lũng đầm lầy. Từng bước chân của họ đặt chính xác lên những phiến đá ngầm có kết cấu vững chắc được Ôn Như Ngọc đánh dấu bằng mực đỏ trên bản đồ. Gió vực sâu thổi mạnh, sương độc ngập mặn bốc lên nghi ngút che khuất hoàn toàn hành tung ẩn mật của họ trong bóng tối.
Chỉ năm mươi nhịp thở sau, tiếng vó ngựa chiến của quân Đại triều đã gầm rú sát rìa đầm lầy.
Triệu Vô Kỵ dẫn đầu năm mươi thiết kỵ binh dừng lại bên bãi bùn. Gã thống lĩnh quắc thước, mắt hổ rực sáng dưới vành mũ sắt xước xát đầy vết chém. Gã giơ cao chiếc la bàn truy phong bằng đồng ngự ban, nhìn chằm chằm vào những vệt máu tươi rỉ ra trên cát muối trắng.
"Báo cáo thống lĩnh!" Một tên kỵ binh tiên phong phi ngựa tới, chỉ tay về phía hai hàng lau sậy phía Đông Bắc. "Phát hiện dấu vết kéo lê của cành cây ngụy trang và vết chân ngựa chiến chạy trốn rất mới! Có cả mùi máu tươi rỉ ra dọc đường!"
Triệu Vô Kỵ bước xuống ngựa, quỳ một chân xuống cát ngửi thử mùi máu tươi bám trên cành tùng rách nát bị bỏ lại. Mùi máu ngựa chiến Đại triều quen thuộc.
"Phản đồ Phùng Thiệu Phong đang hoảng loạn trốn chạy! Hắn dùng cành tùng để xóa dấu vết chân nhưng lại vô tình để lộ vệt kéo lê trên cát lún!" Triệu Vô Kỵ đắc thắng cười lớn, giọng nói đanh thép đầy oai phong vang dội sa trường. Gã không hề nghi ngờ rằng một dịch quan cửu phẩm hèn mọn, tay không tấc sắt lại có thể sở hữu tấm bản đồ địa hình ba chiều chính xác của ẩn sĩ Ôn Như Ngọc.
"Toàn quân nghe lệnh! Giương sẵn cung nỏ tầm xa! Phi nước đại theo dấu vết cành tùng giữa hai hàng lau sậy, bắt sống phản đồ cho ta!"
"Rõ!"
Năm mươi thiết kỵ binh Đại triều vung roi ngựa, phi nước đại dũng mãnh sa trường. Giáp sắt nặng nề bọc trên người kỵ sĩ và ngựa chiến tạo ra một lực nén khổng lồ nện xuống nền cát sét mỏng manh của Đầm lầy Chết.
Từ trên vách đá đứng khuất sương mù bên trái, Phùng Thiệu Phong đứng lặng, tay phải siết chặt lồng ngực đang đau nhói vì sương độc tàn phá phế quản. Ánh mắt hắn lạnh lùng quan sát đoàn kỵ binh đang lao thẳng vào cái bẫy tự nhiên.
Khi mười thớt kỵ binh tiên phong của Triệu Vô Kỵ phi nước đại vào giữa hai hàng lau sậy, nền đất bằng phẳng trông có vẻ khô ráo bỗng nhiên rung chuyển dữ dội.
Dưới lực nén mạnh mẽ và tần số rung động liên tục từ móng sắt kỵ binh, kết cấu sét ngập mặn ngậm nước bên dưới lập tức bị phá hủy, hóa lỏng hoàn toàn thành một hố sình lầy cát lún không đáy khổng lồ.
"Ầm! Ầm! Ầm!"
"Hí... !"
Tiếng ngựa chiến hí vang kinh hoàng xé toạc màn sương đêm lạnh giá. Thớt ngựa chiến tiên phong sa chân vào hố bùn lún, lập tức bị chôn vùi đến nửa thân người. Con thú điên cuồng giãy giụa, nhưng càng giãy giụa, lực ma sát sụt lún càng kéo nó chìm sâu hơn vào lòng đất sét trắng mặn chát.
"Cát lún! Có cát lún! Toàn quân rút lui!" Tên kỵ sĩ tiên phong gào lên kinh hoàng, nhưng chưa kịp dứt lời, cả người và giáp sắt nặng nề của hắn đã bị bùn lầy nuốt chửng hoàn toàn qua đầu gối, rồi đến ngực.
Sự hỗn loạn bùng phát tột đỉnh sa trường. Những thớt kỵ binh phía sau do đà phi nước đại quá nhanh, không thể hãm cương kịp thời, liên tục đâm sầm vào nhau rồi cùng đổ ập xuống hố bùn lún chết chóc. Tiếng la hét hỗn loạn của binh sĩ Đại triều, tiếng giáp sắt va chạm lách cách đầy tuyệt vọng, và tiếng ngựa chiến hí vang khi bị sình lầy nuốt chửng tạo thành một khúc ca tang tóc bi tráng giữa Đầm lầy Chết.
"Đứng lại! Không được hoảng loạn! Quay đầu ngựa chiến lại!" Triệu Vô Kỵ điên cuồng giật cương thớt hắc mã chiến tốt nhất của mình. Nhờ bản lĩnh sa trường dạn dày kinh nghiệm và phản xạ cực nhanh, gã đã kịp thời ghìm cương ngựa ngay sát mép hố bùn lún, nhưng thớt ngựa chiến của gã cũng bị trượt chân, suýt chút nữa rơi xuống vực sâu bùn lầy.
Gã thống lĩnh bất lực nhìn một nửa binh lực tinh nhuệ của mình – hơn hai mươi kỵ sĩ thiết giáp dũng mãnh – bị chôn vùi sống hoàn toàn dưới lòng cát lún ngập mặn chỉ trong vòng vài nhịp thở vàng ngọc. Những cánh tay bọc giáp sắt tuyệt vọng giơ cao khỏi bãi bùn rồi từ từ biến mất dưới làn sương độc màu xám đục, không để lại bất kỳ dấu vết nào ngoài những bong bóng khí lưu huỳnh nổ tung lép bép.
"Phùng Thiệu Phong! Ngươi là đồ hèn nhát xảo quyệt! Bước ra đây quyết chiến trực diện với ta!" Triệu Vô Kỵ điên cuồng gào thét vào màn sương mù dày đặc. Gã thống lĩnh quắc thước râu hùm hàm én rung lên bần bật vì phẫn nộ tột độ. Gã nhận ra mình đã bị lừa gạt hoàn toàn bởi một ván bài địa lý học thực tế tàn nhẫn.
Từ phía vách đá đứng đối diện khuất sương mù, một giọng nói trầm lạnh, vang dội dã chiến vọng lại qua màn sương độc, chậm rãi nhưng đanh thép:
"Triệu thống lĩnh, kiếm sắc của ngài dũng mãnh sa trường, nhưng không thể chém đứt được quy luật tự nhiên của Đầm lầy Chết. Triều đình Đại triều thối nát dùng xương máu vạn dân để củng cố ngai vàng, ngài trung nghĩa mù quáng bảo vệ cho kẻ phản quốc thực sự Khâu Thần Lục, liệu có đáng để hai mươi vạn binh sĩ biên thùy phải chôn thây nơi hoang mạc lạnh giá này không?"
Triệu Vô Kỵ bàng hoàng trước câu hỏi tu từ đầy sức nặng tâm lý chiến của Thiệu Phong. Gã thống lĩnh nắm chặt chuôi song đoản đao hông, lồng ngực phập phồng thở dốc. Gã muốn dẫn quân xông lên vách đá để chém đầu phản đồ, nhưng bản năng binh nghiệp cảnh báo gã rằng vùng đất này còn chứa đựng hàng vạn cạm bẫy địa hình chết chóc khác mà gã không hề biết tới.
"Thống lĩnh! Sương độc bắt đầu bốc lên dày đặc hơn rồi! Ngựa chiến bắt đầu ho sặc sụa, nếu không rút lui ngay, tất cả chúng ta đều chết ngạt ở đây!" Một tên phó tướng sống sót run rẩy báo cáo, mặt mũi xám ngoét vì hít phải khí lưu huỳnh.
Triệu Vô Kỵ cắn răng đến rỉ máu, ánh mắt diều hâu tàn nhẫn nhìn chằm chằm vào màn sương mù dày đặc che khuất bóng dáng Phùng Thiệu Phong. Gã biết, cuộc truy quét đêm nay đã thất bại hoàn toàn. Gã đã mất đi một nửa binh lực tinh nhuệ nhất dưới hố cát lún tự nhiên.
"Toàn quân rút lui khỏi đầm lầy!" Triệu Vô Kỵ ra lệnh, giọng nói khàn đặc vì uất hận. Gã nhảy vọt lên lưng hắc mã chiến, chỉ tay về phía màn sương mù sâu thẳm, hét lớn tuyên thệ vĩnh viễn:
"Phùng Thiệu Phong! Ta thề sẽ phong tỏa toàn bộ lối ra biên giới Nhạn Môn Quan! Ta sẽ rải quân canh gác nghiêm ngặt từng khe đá, nguồn nước dọc biên cảnh hà cốc! Đầu của ngươi vĩnh viễn thuộc về thanh đao của ta! Ngươi không bao giờ có đường sống trở về Đại triều đâu!"
Tiếng vó ngựa rút lui của tàn quân Triệu Vô Kỵ xa dần, để lại Đầm lầy Chết trong vẻ tĩnh lặng chết chóc u ám thường lệ.
Trên vách đá hẹp sát mép đầm lầy, Phùng Thiệu Phong đột ngột quỳ sụp xuống bãi bùn sét trắng. Một cơn ho dữ dội bộc phát từ lồng ngực, khiến hắn đau đớn gập người lại. Hắn khạc ra một ngụm máu tươi màu sẫm đen dính đầy cát mịn lên nền tuyết lạnh. Làn sương độc ngập mặn lưu huỳnh tàn bạo đã tàn phá phế quản của hắn nghiêm trọng, gieo mầm mống cho một chấn thương phổi mãn tính kéo dài suốt phần đời còn lại.
"Phùng đại nhân! Ngài có sao không?" A Ba Chi hốt hoảng nâng đỡ hắn dậy.
"Ta... ta không sao. Đi mau... bão cát sắp tắt... chúng ta phải vượt biên giới ngay lập tức." Thiệu Phong thở dốc, giọng nói thều thào mất giọng hoàn toàn. Hắn siết chặt cuốn sổ tay của Thẩm Hoài An trong ngực áo, cố gắng gượng đứng dậy trên đôi chân run rẩy.
Nhóm hai người dắt thớt chiến mã còn lại, lầm lũi di chuyển vượt qua ranh giới đầm lầy chết chóc, bước vào hoang mạc sỏi đá hoang vu biên giới thùy hiểm trở của thảo nguyên Hung Nô phương Bắc. Nước uống đã cạn sạch, cơ thể kiệt sức hoàn toàn dưới cái lạnh buốt xương của đêm đông sa mạc.
Đột nhiên, từ phía đường chân trời cát nóng rực rỡ buổi bình minh đang từ từ nhô lên, một bóng người du mục Hung Nô cưỡi chiến mã khổng lồ, lưng đeo cung dài, lạnh lùng xuất hiện ngược ánh mặt trời đỏ rực, hướng thẳng tầm mắt sắc lạnh về phía hai kẻ Đại triều rách rưới đang kiệt sức bò trườn trên cát.
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên!