Cướp Than Khẩn Cấp
Tiếng xì xì từ các khe van xả phụ của đầu máy Pháo Đài Đường Sắt rít lên đều đặn nhưng yếu ớt. Trong cabin lái chật hẹp, bầu không khí đặc quánh khói than đen kịt và sương ẩm của đêm muộn vùng biên thùy. Hùng đang gập người bên hốc lò rực lửa, đôi bàn tay gầy gò bám chặt lấy cán chiếc xẻng bọc thép tự chế, liên tục xúc những vốc than thường ẩm ướt thảy vào buồng đốt. Mỗi lần cửa lò mở ra, ngọn lửa không còn màu trắng rực rỡ của nhiệt độ tối ưu nữa, mà chỉ là một quầng đỏ xám tù mù, bốc lên những luồng khói đen kịt ngột ngạt.
“Áp suất đang tụt, chú Lâm ơi!” Hùng hét lên qua tiếng máy gầm rền, mắt dán chặt vào chiếc đồng hồ đo áp suất cơ học bằng đồng thau dính đầy nhọ than. “Kim áp suất vừa rơi từ sáu phẩy năm bar xuống còn năm bar rồi! Than thường bị thấm nước mưa ẩm quá, đốt không lên nổi nhiệt!”
Ông Lâm đứng thẳng bên tay ga điều khiển. Cánh tay phải của người lái tàu già hoàn toàn mất cảm giác, buông thõng bất lực bên hông do chấn thương vai rách toác rỉ máu từ trận chiến trước. Gương mặt muối tiêu sạm đen vì nhọ than của ông đanh lại, đôi mắt nheo nheo đầy lạnh lùng nhìn luồng khói đen bốc lên từ ống khói đầu máy. Luồng khói đen đặc ấy không chỉ làm sụt áp suất lò hơi, mà trong đêm sương mù mỏng này, nó giống như một cột tín hiệu hỏa mù khổng lồ chỉ điểm vị trí của đoàn tàu cho truy binh của Lý Sâm.
“Không có than Antracit, nồi hơi sẽ chết máy trong vòng ba mươi phút nữa,” giọng ông Lâm trầm thấp, cộc cằn nhưng vang rõ qua tiếng rít khí. “Pít-tông sẽ bị bó cứng giữa dốc. Chúng ta không thể đột phá cổng ga với đống than bùn ẩm này.”
Bước ra từ toa hàng bọc thép trung tâm, bác sĩ Mai khoác chiếc áo len quân y lấm lem vệt máu khô của chiến sĩ Vĩnh. Cô nhanh chóng tiếp cận góc buồng lái, tay cầm hũ mỡ trăn và bột sát trùng thảo dược nam: “Chú Lâm, để cháu bôi mỡ trăn cho chú Tư trước. Tấm lưng trần của chú ấy bị bỏng rộp đỏ rực từ lúc ghì tấm thép gia cố xưởng rèn, nếu không dịu da, chú ấy không thể chịu nổi sức nóng lò hơi đâu.”
Ông Tư thợ rèn đang ngồi bệt bên hông cabin, răng nghiến chặt chịu đựng cơn đau rát bỏng sau lưng. Mai nhanh nhẹn thoa lớp mỡ trăn mát lạnh lên những mảng da phồng rộp lớn trên lưng ông, rắc thêm lớp bột thảo dược khô để ngăn nhiễm trùng dã chiến. Ông Tư thở hắt ra một hơi dài, cơ bắp cuồn cuộn dần giãn ra, gật đầu cảm ơn Mai rồi gượng dậy bám lấy bệ lò.
“Chú Lâm,” Hùng sực nhớ ra, thọc tay vào túi áo bảo hộ kaki sờn rách, rút ra chùm chìa khóa vạn năng rỉ sét của Trần Thế mà cậu nhặt được từ trước. “Cháu có chìa khóa này. Ông Toàn trước khi mất từng nói dưới lòng ga bảo tàng có một kho than Antracit dự phòng chiến lược của quân đội thời chiến. Nó nằm ở hầm ngầm bê tông cốt thép ngay dưới bục gác cổng chính.”
Ông Lâm nhìn chùm chìa khóa, đôi mắt già nua lóe lên một tia sáng quyết đoán: “Tốt lắm. Hầm chứa than đá Antracit dự phòng là nguồn sống duy nhất của chúng ta lúc này. Hùng, đi theo tôi. Chúng ta cần đột nhập hầm ngầm xúc mười tấn than chất lượng cao.”
Ông Lâm dùng tay trái dẻo dai xách khẩu súng trường K63 bọc vải bạt lên, ra hiệu cho Hùng bám theo. Họ nhanh chóng tiếp cận khu vực nhà ga đổ nát. Để vận chuyển khối lượng than khổng lồ trong đêm tối dưới làn đạn rình rập, ông Lâm đã liên lạc với Anh Năm Sẹo - trưởng nhóm phu bốc xếp của Hợp tác xã bốc xếp ga biên giới.
Năm Sẹo là một gã thấp đậm, bắp vai rộng như phản thịt, gương mặt hằn vết sẹo dài từ mang tai xuống cổ. Gã dắt theo năm phu mỏ trung thành, tay cầm đòn gánh bọc sắt và xô sắt đúc tự chế bọc cao su ở quai xách để tránh tiếng động kim loại va chạm.
“Chú Lâm, nhóm em sẵn sàng quyết tử cùng chú,” Năm Sẹo thì thầm trong bóng tối sau xác một toa tàu rỉ sét. “Lũ phiến quân của Gã sẹo Bùi đang đi tuần liên tục bằng xe bán tải gá súng máy ngoài sân ga. Thằng chó bắn tỉa A Sáng cũng đã chiếm cao điểm trên vách đá vôi phía đông. Sơ sẩy một cái là ăn kẹo đồng ngay.”
“Cẩn thận góc nhìn từ vách đá,” ông Lâm ra lệnh khẽ, tay trái mở khóa an toàn khẩu K63. “Năm Sẹo, phá khóa hầm ngầm. Hùng, Sơn, chuẩn bị xe tời tay dã chiến.”
Năm Sẹo dẫn đầu tổ phu mỏ tiến sát bục bê tông của cổng ga chính. Cửa sập hầm ngầm bằng thép dày mốc rỉ sét, khóa bằng một ổ khóa đồng thau cổ điển ba nấc chịu lực. Hùng nhanh chóng đưa chiếc chìa khóa vạn năng của Trần Thế vào ổ.
*Cạch. Cạch. Khịt.*
Tiếng cơ cấu khóa cơ học chuyển động giòn giã vang lên trong màn sương đêm. Cánh cửa sập thép nặng nề được Năm Sẹo và hai phu mỏ dùng đòn gánh bọc sắt bẩy mạnh, hé mở một lối xuống tối tăm, nồng nặc mùi ẩm mốc của đất đá hầm lò lâu năm.
“Xuống mau!” Năm Sẹo ra hiệu.
Hùng và Sơn - thợ phụ vận chuyển than - lập tức đẩy chiếc xe tời tay dã chiến lao xuống bậc thềm dốc. Dưới ánh sáng tù mù của chiếc đèn bão bọc vải bạt che sáng, những đống than đá Antracit sàng tuyển hiện ra đen bóng, khô ráo và lấp lánh như những khối kim cương đen. Đây là loại than Antracit thượng hạng không khói, có nhiệt lượng cực đại lên tới 7500 kilocalories trên mỗi kg, thứ nhiên liệu sống còn có thể đẩy áp suất nồi hơi của Pháo Đài Đường Sắt lên mức cực hạn.
“Xúc! Xúc khẩn cấp!” Năm Sẹo gầm khẽ, bắp tay cuồn cuộn quai chiếc xẻng sắt đúc, liên tục xúc than đổ đầy vào các bao tải thô dã chiến.
Hùng và Sơn phối hợp nhịp nhàng, khuân vác những bao than nặng năm mươi ký đặt lên thùng xe tời tay. Tiếng xẻng xúc than sột soạt vang lên dồn dập trong lòng hầm ngầm ngột ngạt. Mồ hôi trộn lẫn bụi than đen kịt chảy ròng ròng trên trán Hùng, bám vào vết bỏng sạm ở vai làm cậu nhức nhối tột cùng, nhưng cậu không dám lơi tay một giây.
Chỉ trong vòng mười lăm phút, chiếc xe tời tay đã chất đầy gần hai mươi bao than Antracit khô ráo.
“Đẩy lên! Chuyến đầu tiên!” Năm Sẹo ra lệnh.
Nhưng ngay khi chiếc xe tời vừa được đẩy lên khỏi cửa sập hầm ngầm hướng ra khoảng sân ga trống trải, một luồng ánh sáng cực mạnh từ đèn pha xe bán tải của địch quét thẳng qua màn sương mù, rọi trúng bóng dáng của Sơn đang đẩy xe.
*Đoàng!*
Một tiếng nổ đanh gọn, khô khốc xé toạc sương đêm từ vách đá vôi phía đông cao hơn tám trăm mét.
“Bắn tỉa! Nằm xuống!” Ông Lâm hét lên từ góc khuất cabin toa bọc thép.
Viên đạn xuyên giáp cỡ bảy phẩy sáu hai ly của khẩu Dragunov SVD do A Sáng khai hỏa đã ghim thẳng qua bao than trên vai Sơn. Bao tải thô rách toác, bụi than Antracit sàng tuyển xì ra đen kịt như một quầng khói mù mịt. Lực động năng cực mạnh hất văng Sơn ngã nhào xuống sàn đá tà vẹt gỗ.
*Đoàng! Đoàng!*
Hai phát súng bắn tỉa tiếp theo găm boong boong vào mặt đường ray sắt sát chân Sơn, bắn tung tóe những mảnh đá dăm sắc nhọn găm vào da thịt anh.
“Sơn bị thương rồi!” Hùng hoảng loạn hét lên, định lao ra khỏi góc khuất của cửa sập hầm ngầm để cứu đồng đội.
“Đứng im đó, Hùng! Thằng bắn tỉa đang ghim góc bắn!” Năm Sẹo quát lớn. Gương mặt đầy sẹo của gã đỏ rực lên vì giận dữ và áp lực chiến trận. Gã quan sát thấy loạt đạn bắn tỉa của A Sáng từ vách đá cao có góc bắn thẳng rất rộng hướng vào khoảng sân trống giữa hầm ngầm và toa chứa tàu.
Năm Sẹo đưa mắt nhìn đống phế liệu sắt rỉ khổng lồ - những trục bánh xe lửa cũ và thanh ray hỏng xếp chồng lên nhau sát mép đường chạy - cách gã ba mét. Gã siết chặt chiếc đòn gánh bằng gỗ nghiến hai đầu bọc ống thép chịu lực nặng mười ký của mình, gầm lên một tiếng như mãnh thú, lao vút ra ngoài.
*Chát! Chát!*
Hai viên đạn bắn tỉa cày nát bả vai áo ba lỗ rách của Năm Sẹo, sượt qua da thịt rớm máu đỏ. Nhưng gã không dừng lại. Gã dùng toàn bộ sức mạnh thể chất cơ bắp cực hạn của một trưởng nhóm phu bốc vác, chọc mạnh đầu đòn gánh bọc sắt vào chân đế đỡ của đống phế liệu rỉ sét, lấy đà húc đổ hoàn toàn đống sắt nặng hàng tấn.
*Rầm rầm rầm rầm!*
Hàng chục trục bánh xe và thanh ray sắt rỉ đổ sập xuống, lăn lông lốc trên sàn đá ga, tạo thành một bức tường rào chắn phế liệu cao hơn một mét rưỡi chắn ngang giữa hướng bắn của A Sáng và lối đi của xe tời than.
“Lá chắn đây rồi! Đẩy xe! Mau!” Năm Sẹo hét lên, máu từ vết sượt vai chảy loang lổ ngực trần sạm đen bụi than của gã.
A Sáng trên vách đá nheo mắt qua kính ngắm quang học PSO-1, nghiến răng khi mục tiêu hoàn toàn bị che khuất bởi bức tường phế liệu sắt rỉ đổ sập. Gã cố gắng bẻ góc ngắm bắn xuyên qua các khe hở nhỏ của đống bánh xe.
Từ trên cabin lái bọc thép của đầu máy Pháo Đài Đường Sắt, ông Lâm đã chiếm lĩnh vị trí gác súng thuận lợi sau tấm khiên thép dày ba mươi ly. Khớp vai phải liệt hoàn toàn của ông đau nhức dữ dội, nhưng ông nén đau, dùng tay trái dẻo dã tì báng khẩu súng trường K63 lên gờ thép bọc vỏ cabin lái, áp má trái ngắm bắn.
*Đoàng! Đoàng! Đoàng!*
Ông Lâm điểm xạ liên tiếp ba phát súng trường K63 hướng thẳng về phía quầng lửa nòng súng bắn tỉa vừa lóe lên trên vách đá vôi sương mù của A Sáng. Những viên đạn cỡ bảy phẩy sáu hai ly găm trúng mỏm đá nhô ra, bắn tung tóe bụi đá vôi xám xịt, ép sát thủ bắn tỉa của Trương Hoài phải thu mình lùi lại sau hốc đá tránh đạn áp chế tầm trung.
“Hùng! Kéo Sơn vào hầm ngầm dã chiến! Năm Sẹo, bốc xếp than lên toa chứa!” Ông Lâm hét lớn, tay trái nhanh nhẹn lên đạn khẩu K63 bằng một động tác giật báng súng dứt khoát tì vào ngực.
Hùng dũng cảm bò ra ngoài dưới sự bảo vệ của bức tường phế liệu Năm Sẹo vừa dựng, bám chặt lấy hai chân Sơn, dùng lực toàn thân lôi lết người thợ phụ bị thương rách vai vào sát mép cửa sập hầm ngầm an toàn.
Bác sĩ Mai từ toa hàng trung tâm bọc thép lập tức bò sát sườn toa, kéo Sơn vào bên trong trạm y tế dã chiến để băng bó khẩn cấp vết thương rách vai đang chảy máu xối xả.
Phía ngoài, Năm Sẹo cùng bốn phu bốc vác dốc sức khuân vác từng bao than Antracit sàng tuyển từ xe tời tay thảy lên Toa chứa than đá số 2 phía sau đầu máy hỏa xa. Tốc độ bốc xếp thủ công được đẩy lên cực hạn dưới làn đạn súng máy của đội tuần tuần phiến quân bắt đầu nổ súng quấy rối từ xa sân ga.
“Đầy rồi! Đủ mười tấn than Antracit rồi, chú Lâm ơi!” Năm Sẹo hét lớn, gạt vội dòng mồ hôi dính bết bụi than trên mặt khi bao than cuối cùng được ném gọn vào toa chứa.
Ông Lâm giật van còi hơi, tiếng còi tàu Pháo Đài Đường Sắt gầm rú vang dội xé toạc đêm sương ga bảo tàng, báo hiệu nồi hơi đã có đủ nguồn sống chất lượng cao để bứt tốc đột phá.
Hùng quay trở lại cabin lái, người đầm đìa mồ hôi và bụi than đen kịt. Cậu thọc xẻng vào đống than Antracit khô ráo vừa được tiếp viện, xúc một vốc đầy thảy vào lò. Ngọn lửa lò hơi lập tức bùng cháy dữ dội, chuyển từ màu đỏ xám tù mù sang màu sáng trắng rực rỡ của nhiệt độ tối ưu một ngàn hai trăm độ C.
Kim áp suất trên đồng hồ đo bắt đầu rục rịch tăng vọt từ năm bar lên sáu bar, rồi sáu phẩy năm bar hành trình ổn định đầy kiêu hãnh.
“Thành công rồi! Áp suất đang tăng rất nhanh!” Hùng reo lên.
Nhưng khi cậu quay người bám vào lan can sườn để kiểm tra hệ thống giảm chấn gầm của Toa chứa than đá số 2 - toa xe vốn chịu tải trọng nặng bất thường từ trước - Hùng bỗng cảm nhận được một độ võng cơ học bất thường ở khung gầm gờ thép chịu lực.
Toa chứa than nặng hơn bình thường rất nhiều, lực nhún của lò xo giảm chấn gầm bẹp rí xuống sát mặt tà vẹt gỗ. Hùng tò mò chui nửa người xuống khe hở hẹp giữa bệ lò hơi và gầm toa chứa than số 2 để kiểm tra xem có bị kẹt đá tảng hay không.
Dưới ánh sáng vàng vọt, chập chờn của chiếc đèn bão treo sườn toa, Hùng phát hiện một vết nứt rỉ sét lớn chạy dọc theo thanh dầm chịu lực chính bằng thép rỗng gia cố khung gầm toa than.
Cậu đưa ngón tay quấn băng gạc dính dầu mỡ sờ vào vết nứt rỉ sét bám đầy bụi than đen. Cảm giác kim loại nhám, thô ráp rỉ sét đột ngột chuyển sang một bề mặt cực kỳ nhẵn mịn và nặng trĩu bên trong lõi thanh dầm rỗng.
Hùng lấy chiếc xẻng bọc thép tự chế của mình, dùng mũi xẻng sắc bén cạo mạnh một đường dứt khoát vào vết nứt rỉ sét gầm toa.
Lớp rỉ sắt dày cộp và bụi than Antracit đen kịt rụng xuống tà vẹt gỗ. Dưới ánh sáng vàng của đèn bão rọi thẳng vào khe nứt, một vệt ánh kim màu vàng óng ánh, đậm đặc và nặng trĩu lộ ra, phản chiếu một thứ ánh sáng lấp lánh rực rỡ đầy ma quái.
Hùng trợn tròn mắt, hơi thở dồn dập bóp nghẹt lồng ngực cậu. Đó không phải là thép chịu lực.
Đó là vàng đúc nguyên khối.
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên!