Chân Tướng Dưới Đáy Toa
Tiếng gầm rú sụp đổ của hàng ngàn tấn sắt thép dội lại từ phía sau, âm u và nặng nề, tựa như tiếng thở dài cuối cùng của một gã khổng lồ rỉ sét. Nhịp giữa của Cầu đường sắt số 1 đã hoàn toàn chìm vào lòng vực thẳm sâu hoắm, cắt đứt vĩnh viễn con đường quay lại nhà ga bảo tàng biên giới. Phía trước đoàn tàu hơi nước bọc thép Pháo Đài Đường Sắt giờ đây chỉ còn là bóng tối đen kịt của thung lũng sương mù và một tuyến ray đơn độc chạy dọc biên thùy.
Đầu máy hỏa xa lướt đi trong đêm muộn với một tốc độ chậm rãi đầy mệt mỏi. Cú tiếp đất kinh hoàng sau cú nhảy vượt cầu sập mố đã vắt kiệt những chút lực tàn cuối cùng của cỗ máy hơi nước tám mươi tấn. Lực phản chấn cực đại đã nghiền nát hoàn toàn hệ thống gioăng cao su giảm chấn bánh gầm hỏa xa. Không còn lớp đệm cao su đàn hồi, những bánh thép khổng lồ nghiến trực tiếp vào thanh ray sắt rỉ, phát ra những tiếng rít kim loại chói tai, rợn người dội ngược vào cabin lái.
Trong cabin, không gian ngột ngạt tràn ngập hơi nước siêu nhiệt phun ra xối xả từ vết nứt mới rách toác ở mố nối sườn nồi hơi. Luồng khí nóng một trăm năm mươi độ C mù mịt khiến tầm nhìn bị thu hẹp xuống dưới hai mét, bốc mùi dầu mỡ cháy khét lẹt.
Ông Lâm đứng thẳng kiêu hãnh bên tay ga lớn, đôi bàn chân sần sùi bám chặt lấy sàn cabin đang rung lắc dữ dội không có giảm chấn. Trán ông vẫn rỉ máu từ vết sượt mảnh kính vỡ, những giọt máu đỏ tươi trộn lẫn nhọ than đen kịt chảy dọc theo gò má đầy nếp nhăn sương gió, đọng lại nơi cằm rồi rơi xuống lớp băng gạc dính đầy dầu mỡ đen kịt ở bàn tay trái.
Cánh tay phải của người lái tàu già bị liệt hoàn toàn, buông thõng bất lực bên hông áo kaki xanh sờn vai do vết thương mảnh đạn cũ rách toác rỉ máu dữ dội. Nhưng bàn tay trái bị bỏng rộp sâu rách da của ông vẫn ghì chặt lấy van phanh hơi chính, từ từ giảm tốc độ tàu.
“Chú Lâm, áp suất lò hơi đã tụt xuống dưới năm bar rồi!” Hùng hét lớn qua bộ lọc ẩm của chiếc mặt nạ phòng độc tự chế. Gương mặt cậu thợ phụ mười chín tuổi lấm lem nhọ than đen kịt, bắp tay phải bị bỏng sâu rộp đỏ rách da rỉ máu tươi – hậu quả của những nhát búa rèn dã chiến cắt toa ở tập trước – đang giật lên từng cơn đau buốt xương tủy mỗi khi cậu vung xẻng dọn dẹp.
“Cho tàu chạy chậm lại bằng đà quán tính, lách vào khe núi đá vôi hẹp phía trước để hạ áp suất lò hơi,” giọng ông Lâm trầm thấp, cộc cằn dội qua ống đồng liên lạc. “Chúng ta cần mười lăm phút để nồi hơi nguội bớt, nếu không vết nứt mố nối sườn sẽ vỡ toác ra mất.”
Đoàn tàu từ từ rướn mình vào khe núi đá vôi hẹp, tiếng bánh thép nghiến rít dịu dần rồi dừng hẳn dưới bóng tối của vách đá dựng đứng. Sự im lặng câm lặng đột ngột bao trùm lấy thung lũng, chỉ còn tiếng xì xì đều đặn của luồng hơi nước rò rỉ thoát ra ngoài khe núi sương mù.
Trong lúc dọn dẹp khoang than trống rỗng ở Toa chứa than đá số 2 nằm ngay sau đầu máy, Hùng cố gắng gượng dậy, nén cơn đau buốt ở bắp tay phải. Lượng than Antracit sàng tuyển dự phòng đã bị tiêu thụ gần hết sau cú bứt tốc cực hạn vượt cầu sập mố, chỉ còn lại một lớp bụi than đen kịt phủ dày dưới đáy toa.
Hùng chộp lấy chiếc xẻng xúc than bọc thép tự chế có khắc tên mình. Cậu khom lưng, bắt đầu cạo mạnh lớp bụi than và rỉ sắt dày cộp bám chặt dưới đáy toa để chuẩn bị nạp mẻ than cuối cùng.
*KENG! KENG!*
Mũi xẻng sắt sắc bén va chạm vào một thanh thép chịu lực gia cố khung gầm gầm toa, phát ra những tiếng kêu đanh tai, nặng trịch dị thường. Hùng nhíu mày. Với thính giác cơ khí thiên tài nhạy bén, cậu lập tức nhận ra âm thanh này không phải là tiếng vang rỗng của thép ống chịu lực thông thường. Nó quá đậm đặc, trầm đục và nặng trĩu.
Cậu quỳ xuống sàn toa dính đầy dầu mỡ, đưa đèn bão rọi sát vào khe nứt rỉ sét gầm toa sườn trái. Hùng dùng mũi xẻng bọc thép cạo mạnh lớp sơn chống rỉ màu đen bong tróc bên ngoài thanh thép gia cố.
Dưới ánh sáng vàng vọt của ngọn lửa đèn bão, lớp rỉ sắt đen kịt rụng xuống tà vẹt gỗ, để lộ ra một vệt ánh kim màu vàng óng ánh, lấp lánh rực rỡ đầy ma quái. Hùng đứng chết trân, hơi thở nghẹn lại trong cổ họng. Cậu đưa ngón tay run rẩy quệt thử lên vệt ánh kim, cảm giác mát lạnh, nặng trịch và mềm dẻo đặc trưng của kim loại quý truyền vào đầu ngón tay.
“Vàng... Đây là vàng đúc nguyên khối!” Hùng thầm thì trong kinh hoàng.
Cậu tiếp tục cạo mạnh dọc theo khung gầm. Toàn bộ các thanh thép rỗng gia cố chịu lực của Toa chứa than đá số 2 thực chất đều được đúc bằng những thỏi vàng khổng lồ, ngụy trang tinh vi dưới lớp vỏ thép mỏng và sơn chống rỉ đen kịt. Số lượng vàng lậu này lớn đến mức có thể mua đứt cả một nhà ga biên giới.
“Chú Lâm! Chú Tư! Mau lại đây!” Hùng hét lên, giọng run rẩy lạc đi xuyên qua tấm bạt bọc toa.
Chỉ vài phút sau, ông Lâm lết cánh tay phải liệt, cùng ông Tư thợ rèn bước vào toa chứa than. Ánh đèn bão chiếu rọi vào vệt vàng óng ánh dưới gầm toa, soi rõ gương mặt sững sờ của những người thợ máy già.
“Bí mật về số vàng lậu dưới kho than...” Ông Tư thợ rèn lẩm bẩm, đôi mắt một mí sắc sảo co rút lại đầy kinh ngạc. “Hóa ra... hóa ra đây là lý do tập đoàn thương mại Vương Thị và lão trùm Henry Vương điên cuồng thuê phiến quân Lý Sâm truy sát đoàn tàu hơi nước phế liệu này suốt chặng đường qua. Chúng không muốn cướp lô pháo cổ, chúng muốn cướp kho báu di động này!”
Ông Lâm im lặng nhìn vệt vàng lấp lánh, gương mặt muối tiêu đầy nếp nhăn sương gió không lộ ra một chút tham lam nào, chỉ có một sự căm phẫn tột cùng hiện rõ trong đôi mắt đỏ rực.
“Henry Vương đã dùng xương máu của những người công nhân đường sắt biên giới để ngụy trang cho số vàng bẩn thỉu này,” ông Lâm trầm giọng, cộc cằn dứt khoát. “Đoàn tàu của chúng ta vô tình trở thành tấm lá chắn rửa tiền cho chúng.”
“Nói! Ai đã giúp Henry Vương cất giấu số vàng này dưới đáy toa than!” Ông Tư thợ rèn gầm lên, quay sang lôi xộc Trần Thế đang bị trói chặt bằng xích sắt ở góc toa bọc thép sau ra sàn thép.
Trần Thế – gã phó ga phản bội – gương mặt mập mạp bết đầy bụi than và mồ hôi nhầy nhụa, run rẩy co rúm người lại dưới ánh nhìn lạnh lùng của ông Lâm. Gã lắp bắp, đôi mắt ti hí gian xảo đảo liên tục hòng tìm đường chối tội:
“Tôi... tôi không biết gì cả! Tôi chỉ nợ tiền cờ bạc ở sòng bài biên giới của Henry Vương nên bị ép phải phá hoại van xả áp thôi! Chuyện số vàng này tôi hoàn toàn vô can!”
“Mày còn chối!” Hùng bước tới, bắp tay phải bị thương giật mạnh đau buốt. Cậu thọc tay vào túi áo phó ga phẳng phiu loang lổ vết dầu mỡ của Trần Thế, giật phăng ra một tập giấy tờ đã nhăn nheo.
Đó là một đai nợ cờ bạc đóng dấu đỏ chói của Tập đoàn thương mại Vương Thị, bên dưới có chữ ký tươi của Trần Thế và điều khoản cam kết: *Phải hỗ trợ kỹ thuật tháo dỡ gầm toa chứa than số 2 ga bảo tàng để cấn trừ nợ nần*.
“Đai nợ cờ bạc đóng dấu Vương Thị này đã vạch trần mày rồi, Trần Thế,” Hùng lạnh lùng nói, ném tập giấy tờ vào mặt gã phó ga phản bội. “Mày biết rõ gầm toa than chứa vàng lậu của Henry Vương, mày phá hoại tàu để ép chú Lâm phải thanh lý phế liệu toa chứa than cho chúng!”
Trần Thế mặt xám ngoét như tro tàn, ngã quỵ xuống sàn toa chứa than dính đầy bụi than, không thể hé răng chối cãi thêm một lời nào.
Ông Lâm quay lưng lại, không thèm nhìn kẻ phản bội hèn nhát thêm một giây. Ông bước chậm rãi trở lại cabin lái để kiểm tra hệ thống pít-tông kéo bị bó cứng do thiếu dầu bôi trơn sau trận bứt tốc cực đại.
Bước vào cabin lái mù sương hơi nước, ông Lâm khom người bám tay ga lớn bằng bàn tay trái bỏng rộp. Đúng lúc đó, bác sĩ Mai bước vào, tay xách hòm dụng cụ cứu thương bằng tôn của Thầy thuốc Vi. Mái tóc đen của cô buộc gọn sau gáy bám đầy những hạt sương li ti, đôi mắt cương nghị lộ rõ vẻ lo lắng khi nhìn thấy vết sượt rách da trên trán ông Lâm vẫn đang rỉ máu.
“Chú Lâm, ngồi yên để cháu băng bó vết thương trên trán và bôi cao dán trị bỏng cho bàn tay trái của chú,” Mai nghiêm khắc nói, giọng nói ấm áp nhưng đầy quyết đoán dứt khoát của một quân y dã chiến.
Cô mở hòm cứu thương, dùng panh mổ bằng thép không gỉ của Liên Xô kẹp bông tẩm cồn sát trùng đỏ để lau vết thương trên trán cho người lái tàu già. Ông Lâm im lặng ngồi bệt bên bệ lò hơi, nén cơn đau rát khi cồn sát trùng thấm vào da thịt sương gió.
Trong lúc Mai đang tỉ mỉ khâu vết sượt rách da bằng chỉ nylon dã chiến, ánh mắt cô vô tình quét qua góc tối của cabin lái mù sương. Trên chiếc móc sắt rỉ sét treo sát vách thép bọc giáp sườn trái, có một chiếc mũ công tác xe tăng bằng da lộn đã sờn rách nát góc, bám đầy bụi than và vết dầu mỡ khô cứng.
Mai dừng tay mổ lại, đôi mắt cương nghị đột ngột mở to, run rẩy dữ dội. Cô bước tới, đưa bàn tay nhỏ nhắn vuốt ve lớp da lộn đã mòn vẹt của chiếc mũ công tác xe tăng lịch sử. Khi cô lật nhẹ phần lót phía trong mũ, dưới ánh lửa lò hơi đỏ rực hắt ra, một dòng chữ thêu thủ công bằng chỉ đỏ đã phai màu lộ ra: *Nguyễn Văn Hùng – Lữ đoàn thiết giáp 201*.
“Chiếc mũ này... của ai vậy chú Lâm?” Giọng Mai run lên bần bật, chiếc panh mổ Liên Xô trong tay cô suýt rơi xuống sàn thép.
Ông Lâm ngước mắt nhìn chiếc mũ da lộn cũ kỹ, đôi mắt muối tiêu sắc lạnh bỗng chốc trùng xuống, đong đầy một nỗi đau thương dồn nén suốt hai mươi năm qua. Ông thở dài, giọng trầm thấp nghẹn ngào:
“Đó là di vật duy nhất của người đồng đội cũ đã cứu mạng chú trong chiến dịch biên giới năm 1979... Nguyễn Văn Hùng. Cậu ấy là lái chính của chiếc xe tăng T-54 huyền thoại mang số hiệu 843 sườn.”
Người lính già Lâm hướng mắt ra ngoài cửa kính vỡ nát, giọng nói cộc cằn thường ngày giờ đây run rẩy dạt dào cảm xúc:
“Năm đó, xích truyền động của xe tăng bị lỗi kỹ thuật đứt gãy gầm ngay giữa trận địa pháo bắn phá của địch. Chiếc xe bị trúng đạn bốc cháy dữ dội. Hùng... cậu ấy đã dùng chút tàn lực cuối cùng để đẩy chú ra khỏi cửa sập tháp pháo trước khi buồng đạn phát nổ nổ tung. Cậu ấy đã nằm lại trong quầng lửa đỏ rực rỡ để chú được sống sót trở về bảo trì đầu máy hơi nước này.”
Ông Lâm đưa bàn tay trái bỏng rộp vuốt ve lớp giáp thép bọc sườn cabin lái, nghẹn ngào tiết lộ:
“Lớp giáp bọc đầu máy Pháo Đài Đường Sắt này... thực chất được chú và ông Tư thợ rèn tháo dỡ từ xác chiếc xe tăng lịch sử bọc thép của cha cháu đưa về bảo tàng. Chú muốn linh hồn của cậu ấy luôn đồng hành bảo vệ đoàn tàu di sản xương máu này vượt qua bão đạn.”
Mai nghe đến đây, nước mắt cô đã tuôn rơi xối xả, làm nhòe đi gương mặt cương nghị sương gió. Cô nghẹn ngào, giọng nói khản đặc xé lòng:
“Chú Lâm... Nguyễn Văn Hùng... liệt sĩ xe tăng năm đó... chính là cha ruột của cháu. Chiếc mũ này... chính tay mẹ cháu đã thêu tên cha trước ngày ông lên đường ra biên giới phía Bắc.”
Ông Lâm đứng bật dậy, toàn thân người lính già run lên bần bật trước sự thật chấn động. Ông nhìn chằm chằm vào đôi mắt cương nghị, sắc sảo của Mai – đôi mắt giống hệt người đồng đội cũ Nguyễn Hùng năm xưa đã đẩy ông ra khỏi xe tăng cháy.
“Cháu... cháu là con gái của Hùng sao?” Ông Lâm lắp bắp, đôi bàn tay thô ráp đầy vết bỏng rộp run rẩy chạm vào bắp vai Mai.
Mai không kìm được lòng mình nữa. Cô nhào tới, ôm siết lấy bả vai sờn rách áo kaki của ông Lâm, khóc nức nở trên vai người lái tàu già. Mọi sự xa cách hoài nghi, lạnh lùng giữa hai thế hệ thợ máy đường sắt và quân y suốt chặng đường qua giờ đây đã hoàn toàn tan biến, hòa giải tâm linh gắn kết họ thành tình cha con ruột thịt thiêng liêng trên toa tàu bọc thép.
Ông Lâm dùng bàn tay trái bỏng rộp vỗ nhẹ lên lưng Mai, những giọt nước mắt già nua nóng hổi lăn dài trên gương mặt đầy nếp nhăn sương gió, rơi xuống chiếc mũ da lộn di vật cũ kỹ. Lời hứa bảo vệ di sản xương máu của đồng đội cũ giờ đây đã hóa thành trách nhiệm bảo vệ sinh mạng con gái đồng đội bằng chính tính mạng của ông.
*RÈÈÈÈ! RÈÈÈÈ!*
Đột ngột, bầu không khí ấm áp thiêng liêng bị xé toạc bởi tiếng hú điện từ chói tai phát ra từ chiếc Bộ đàm sóng ngắn vô tuyến PRC-25 đặt trên bệ đỡ cabin lái.
Tần số vô tuyến vốn bị cô lập bởi thiết bị phá sóng của Đạt phá sóng từ trước bỗng dưng tự động bẻ khóa kết nối. Luồng sóng ngắn chập chờn vượt qua màn sương mù dày đặc của Đèo Sương Tử Thần, truyền vào một giọng nói lạnh lùng, trầm đục đầy mưu mô quân sự sắc bén:
“Lâm 'Sắt Đá'... Chúc mừng cựu trung úy binh chủng thiết giáp đã vượt qua lũ chó hoang Lý Sâm thành công.”
Ông Lâm lập tức đẩy nhẹ Mai ra sau sườn bảo vệ, tay trái chộp lấy ống nghe vô tuyến bộ đàm PRC-25, giọng đanh thép lạnh lùng:
“Mày là ai?”
“Ta là Đại tá Trương Hoài, chỉ huy Tập đoàn quân sự tư nhân Băng Phong,” giọng nói bên kia đàm thoại phát ra tiếng rít xì cười lạnh. “Henry Vương đã tăng giá hợp đồng lên gấp đôi để xóa sổ Pháo Đài Đường Sắt của các người cùng số vàng lậu dưới gầm toa chứa than số 2 sườn. Tiểu đoàn xe bọc thép hạng nhẹ và súng cối của ta đang đón lỏng các người tại Đèo Sương Tử Thần dốc đứng phía trước. Dừng tàu đầu hàng giao vàng, hoặc chấp nhận bị nghiền nát vĩnh viễn vệt cua đèo sương.”
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên!