Người Thầy Thực Chiến
Đêm Tịnh Biên, sương muối phủ một lớp mờ đục lên những rặng tràm ngập nước. Không khí mang theo vị mặn chát của phù sa sông Bé và mùi lá mục rữa nồng nặc. Từ căn nhà sàn gỗ rách nát ven rạch, Phan Đình Quốc bước từng bước tập tễnh dưới sự dìu dắt của Lê Văn Hùng.
Bả vai trái của Quốc nhói lên từng cơn đau buốt tận xương tủy. Mười hai mũi khâu dã chiến bằng kim chỉ thô sơ mà Bác sĩ Thạch Sên vá lại đêm trước đang bị kéo căng, rỉ ra những vệt máu tươi thấm đẫm lớp băng gạc cáu bẩn. Cơn sốt nhẹ âm ỉ làm hai bên thái dương anh đập liên hồi. Nhãn lực mờ mịt do thiếu đi chiếc kính cận quen thuộc khiến thế giới trước mắt Quốc chỉ là những hình khối nhòe nhoẹt, mờ ảo của những tán lá tràm sẫm màu dưới ánh trăng khuyết.
“Mày chắc chắn gã cựu binh này tin tưởng được chứ?” Hùng khàn giọng hỏi, cánh tay phải gã ghì chặt lấy đốc khẩu súng ngắn K54 cũ dính bùn đất giắt ở hông quần – thứ vũ khí chỉ còn đúng bốn viên đạn. Cánh tay trái của Hùng hoàn toàn vô lực, thõng xuống một bên hông như khúc gỗ chết do chấn thương rạn xương bả vai trái chưa được nắn chỉnh.
“Chú Tư là người duy nhất ở vùng biên này không bị đồng tiền của Chen Wei hay Danh Chợ Mới mua chuộc,” Quốc thầm thì, giọng đứt quãng vì đau. “Cha tao năm xưa từng giúp chú ấy một việc lớn về giấy tờ giải ngũ. Chú ấy nợ nhà tao một nhân quả.”
Họ đi sâu vào con đường tiểu ngạch đất sét trơn trượt, né tránh những vệt sáng quét qua quét lại của các xuồng tuần tra từ phía sông lớn. Sau gần một giờ lội bộ xuyên qua những bụi dừa nước rậm rạp, một bóng đen khổng lồ, im lìm hiện ra trước mắt họ.
Đó là Nhà kho rỉ sét của Chú Tư. Căn kho máy nông nghiệp bỏ hoang nằm biệt lập sát mép rạch sông Bé, phần mái tôn rỉ sét loang lổ đã ngả sang màu đỏ gạch, bốc lên mùi dầu máy cũ và mỡ bò nồng nặc.
*Két...*
Tiếng cửa sắt rỉ sét rên rỉ một âm thanh rợn người khi Quốc đẩy nhẹ. Bên trong kho tối om, chỉ có ánh sáng trăng yếu ớt lọt qua những lỗ thủng trên mái tôn, rọi lên những khối động cơ máy cày, máy bơm nước rỉ sét nằm ngổn ngang như những xác thú kim loại khổng lồ.
“Ai đó?”
Một giọng nói trầm khàn, lạnh lùng đột ngột vang lên từ phía sau một chiếc máy cày Kubota cũ.
Cùng lúc đó, một bóng người nhỏ thó nhưng săn chắc bước ra khỏi bóng tối. Chú Tư đứng đó, mặc chiếc áo lính cũ sờn rách vai, tay phải cầm một cây gậy tre dài vót nhọn đầu, đôi mắt sắc lẹm như mắt diều hâu quét qua hai kẻ đột nhập. Quốc nheo mắt hết cỡ, cố gắng đưa gương mặt hốc hác của mình sát lại gần dưới năm phân để nhận diện người đàn ông trung niên trước mặt.
“Chú Tư... Con là Quốc, con trai của Phan Đình Cảnh đây.”
Chú Tư khựng lại. Cây gậy tre trong tay ông khẽ hạ xuống, nhưng đôi mắt vẫn không mất đi sự cảnh giác dã chiến. Ông bước tới, dùng bàn tay thô ráp, cụt mất ngón út bên trái giật phăng lớp băng gạc dính máu trên vai Quốc. Ánh mắt ông nheo lại khi nhìn thấy vết thương rách nát sưng tấy đỏ:
“Đạn Galil năm phẩy năm sáu ly. Bắn từ trên cao xuống. Chỉ có lính gác tháp canh đặc khu Poipet bên Cam mới xài thứ này. Mày là thằng kế toán bị lừa bán sang đó, rồi hack sạch tiền sòng bài trốn về nước đúng không?”
Quốc cắn răng chịu đựng cơn đau khi Chú Tư ấn mạnh vào vết thương vai: “Phải. Con trốn về được, nhưng tụi nó đang lùng sục khắp biên giới. Con không có sức mạnh cơ bắp như Hùng, con chỉ có cái đầu kế toán. Con muốn học cách sống sót dã chiến của chú để tự vệ.”
Chú Tư nhìn chằm chằm vào Quốc, rồi nhìn sang Hùng đang đứng gác cửa với cánh tay trái vô lực và khẩu K54 dắt hông. Một nụ cười lạnh lùng, đầy ngạo nghễ hiện lên trên gương mặt sạm đen vì nắng gió của cựu binh biên phòng:
“Sống sót ở vùng biên này không có chỗ cho những con số trên giấy tờ của mày đâu, thằng kế toán. Ở đây, quy luật là máu và nước đục. Muốn tao dạy? Được. Nhưng tao huấn luyện dã chiến, đau chết đi sống lại, chịu không nổi thì cút ngay đêm nay.”
“Con chịu được,” Quốc trả lời, ánh mắt sắc lạnh không hề dao động.
“Tốt. Đi theo tao.”
Chú Tư không cho Quốc một giây nghỉ ngơi. Ông kéo anh ra bờ sông Bé ngay phía sau nhà kho. Dòng nước sông Bé ban đêm cuộn chảy xiết, đục ngầu phù sa và lạnh buốt xương.
“Bước xuống!” Chú Tư ra lệnh, giọng lạnh như băng.
Quốc không do dự, anh từng bước lội xuống dòng nước lạnh. Khi nước sông ngập ngang ngực, cái lạnh buốt đột ngột ập vào lồng ngực khiến nhịp thở của anh nghẹn lại.
Cơn ác mộng thực sự bắt đầu. Dưới tác động của dòng nước lạnh buốt, bắp chân phải của Quốc đột ngột co rút dữ dội – anh bị chuột rút. Cùng lúc đó, vết thương khâu mười hai mũi trên bả vai trái gặp nước bẩn bắt đầu nhức nhối, đau rát như bị hàng ngàn cây kim nung đỏ đâm trực tiếp vào da thịt. Máu tươi từ vết thương rách nhẹ bắt đầu loang ra, hòa vào dòng nước đục ngầu.
“Chú Tư... chân phải con bị chuột rút...” Quốc rên rỉ, toàn thân run rẩy.
“Câm miệng!” Chú Tư đứng trên bờ vách đất, lạnh lùng hét lớn. “Giang hồ chém tới cổ mày có xin nó dừng lại vì chuột rút được không? Bơi ngược dòng cho tao!”
Quốc cố gắng dùng chút sức tàn của cánh tay phải bấu víu vào dòng nước, ráng sức bơi ngược dòng nước xiết. Nhưng cánh tay trái vô lực do vết thương vai rách nát không thể tạo ra lực đẩy. Chỉ trong vòng ba giây, dòng nước xiết của sông Bé đã cuốn trôi thân hình gầy gò của anh đi xa hơn mười mét. Quốc uống sũng mấy ngụm nước sông đục ngầu, sặc sụa. Hùng đứng trên bờ định lao xuống cứu nhưng Chú Tư dùng gậy tre chặn lại:
“Để nó tự bò lên! Không tự cứu được thì chết làm mồi cho cá!”
Bằng một bản năng sinh tồn mãnh liệt, Quốc cắn chặt môi đến bật máu, dùng tay phải bấu chặt vào một rễ cây tràm cổ thụ ven bờ, dùng hết sức bình sinh kéo thân hình sũng nước bò ngược lên bãi bùn lún. Toàn thân anh run bần bật, hơi thở đứt quãng.
Chú Tư bước tới, không một chút thương hại, ông dùng cây gậy tre dài đè chặt lên bả vai phải của Quốc, dìm đầu anh xuống vũng nước đục ngầu ven bờ:
“Nín thở dưới nước đục! Khi nào tao chưa nhấc gậy, mày không được ngoi lên. Tập điều hòa nhịp tim nông dã chiến để khống chế cơn đau vai và chuột rút. Đếm số nguyên tố trong đầu mày đi, thằng kế toán!”
Quốc bị dìm sâu dưới làn nước đục ngầu, tối tăm. Nước sông bẩn thỉu lọt vào mũi, vào tai, cay xè. Cơn đau từ bả vai trái hoại tử nhẹ rít lên từng hồi điên cuồng. Toàn thân anh muốn nổ tung vì thiếu oxy.
*Hai... ba... năm... bảy... mười một... mười ba... mười bảy... mười chín... hai mươi ba...*
Quốc bắt đầu kích hoạt trí nhớ ảnh chụp và thuật toán nhẩm số nguyên tố trong đầu. Anh ép buộc hệ thần kinh của mình phải dịu xuống, khống chế tuyến thượng thận đang điên cuồng kích hoạt nhịp tim. Nhịp tim từ 120 dần hạ xuống 90, rồi 80. Khi nhịp tim ổn định, nhu cầu tiêu thụ oxy của cơ thể giảm mạnh. Cơn đau buốt từ bả vai trái dường như cũng bị cô lập ra khỏi ý thức của anh.
Một phút... hai phút... ba phút...
Khi Quốc tưởng chừng như phổi mình sắp nổ tung, Chú Tư mới nhấc cây gậy tre lên. Quốc ngoi lên mặt nước, thở dốc điên cuồng, bùn đất bám đầy trên gương mặt hốc hác.
“Khá lắm,” Chú Tư khẽ gật đầu, ánh mắt thoáng hiện lên một sự kinh ngạc trước ý chí lì lợm của gã kế toán. “Bây giờ, áp tai sát vào mạn xuồng gỗ hoặc mặt nước cho tao. Học Phương pháp đọc dòng chảy sông Bé.”
Quốc gượng dậy, áp sát tai phải xuống tấm ván sàn của chiếc xuồng gỗ cũ neo bên bờ rạch.
“Nghe thấy gì không?” Chú Tư hỏi.
Quốc nhắm mắt, tập trung toàn bộ thính giác dưới làn nước lạnh. Ban đầu chỉ có tiếng sóng vỗ bập bùng, nhưng dần dần, một tần số rung động trầm thấp, đều đặn truyền qua môi trường nước dội thẳng vào màng nhĩ của anh.
“Có tiếng động cơ... tiếng rung rất nhẹ... cách đây khoảng hai cây số,” Quốc thầm thì.
“Đúng,” Chú Tư giảng giải, giọng ông trầm xuống đầy sát khí dã chiến. “Tiếng động truyền qua nước nhanh hơn qua không khí gấp bốn lần. Lính tuần tra của Trần Lực hay ca-nô bọc thép của băng Hắc Sa xài máy hai thì công suất lớn, tiếng búa gõ pittong rất đanh và dồn dập. Dân chài địa phương chỉ xài máy đuôi tôm nổ chậm. Mày phải học cách nghe tiếng sóng đoán tàu để biết đường nín thở trốn dưới nước đục trước khi đèn pha của tụi nó quét trúng.”
Chú Tư chỉ tay ra dòng sông tối mịt: “Nhìn những gợn nước xoáy nhẹ đằng kia. Chỗ nào nước xoáy tròn là có bãi cát ngầm hoặc rác chìm dưới đáy. Khi lái xuồng chạy trốn, phải bẻ lái tránh những chỗ đó ra nếu không muốn bị lật xuồng máy nộp mạng cho địch.”
Sau hơn ba giờ đồng hồ khổ luyện đau đớn thể xác dưới nước lạnh, Quốc được Hùng đỡ trở lại bên trong nhà kho rỉ sét. Thể lực của anh hoàn toàn suy kiệt, bả vai trái rách miệng khâu rỉ ra những giọt máu tươi đỏ loãng quyện lẫn bùn đất. Quốc ngồi bệt xuống sàn đất nện, toàn thân run rẩy nhưng đôi mắt sắc lạnh đứng sau nhãn lực mờ mịt vẫn sáng lên một tia sáng lý trí đáng sợ. Anh đã làm chủ được kỹ năng nín thở dưới nước đục và cách đọc dòng nước xoáy.
Chú Tư nhìn Quốc, thở dài một tiếng đầy cảm khái. Ông bước đến chiếc hòm sắt rỉ sét góc kho, mở khóa cơ học cũ kỹ, lấy ra một vật thể bằng đồng nặng trịch, xỉn màu vì thời gian.
Đó là chiếc La bàn quân sự cũ của Liên Xô.
Chú Tư đặt chiếc la bàn vỏ đồng vào bàn tay phải bầm dập, rách da của Quốc.
“Đây là kỷ vật chiến trường K của đồng đội tao,” Chú Tư trầm giọng nói, ánh mắt hằn lên những vết chân chim khắc khổ đầy ký ức chiến tranh. “Nó chưa bao giờ chỉ sai hướng. Tao giao nó lại cho mày, thằng kế toán.”
Chú Tư ghé sát mặt vào Quốc, cảnh báo bằng một giọng nói lạnh buốt:
“Nhớ kỹ lời tao dặn. Trong rừng tràm hay đầm lầy biên giới này, chiếc la bàn này là mạng sống của mày. Khi bị toán sát thủ chuyên nghiệp của Trần Lực truy sát, luôn ghi nhớ hướng rút lui an toàn nhất dựa vào kim nam châm. Đừng bao giờ để bản thân bị dồn vào góc chết không có đường lui thủy lộ.”
Quốc siết chặt chiếc la bàn vỏ đồng lạnh ngắt trong lòng bàn tay phải, bả vai trái nhói lên một cơn đau buốt tận xương tủy như một lời nhắc nhở tàn nhẫn về ván bài sinh tử vùng biên giới vô luật pháp sắp sửa bùng nổ.
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên!