Gã Què Rìa Biên Ải
Gió ở Nhạn Môn Quan chưa bao giờ ngừng thổi. Nó không phải là ngọn gió mát lành của vùng sông nước Trung Nguyên, mà là những luồng khí lạnh buốt xé rách da thịt, cuốn theo cát bụi vàng sẫm từ sa mạc phía bắc dội thẳng vào vách đá dựng đứng. Giữa màn sương cát mờ mịt ấy, Thôn Sa Thảo hiện ra như một vệt xám tro tàn tạ, nằm lay lắt rìa biên viễn.
Tại góc sân nhỏ của Nhà tranh Lý nương, tiếng rìu bổ củi vang lên từng nhịp đều đặn, trầm đục.
“Phập! Phập!”
Nhạc Hoài Thương đứng đó, tấm lưng rộng hơi khom dưới lớp y phục vải thô xám rách nát hằn sâu những vệt mồ hôi khô bám đầy bụi cát. Tóc đen của anh xõa xuống, che khuất nửa khuôn mặt phong trần, chỉ để lộ chiếc cằm lún phún râu và đôi mắt sâu hoắm, sắc lạnh như mắt chim ưng sa mạc. Cánh tay trái của anh cuồn cuộn những thớ cơ săn chắc, nắm chặt lấy cán rìu sắt nặng mười hai cân, vung lên rồi bổ xuống dứt khoát.
Ngược lại với sự mạnh mẽ của tay trái, bả vai bên phải của anh buông thõng một cách dị dạng, vô lực. Cánh tay phải ấy khô héo, gầy guộc như một cành cây chết khô treo lủng lẳng bên hông. Dưới lớp áo vải thô rách, vết sẹo lồi lõm sậm màu tím đen hằn sâu vào khớp xương vai – dấu tích tàn khốc của Độc Tố Hắc Sa Trên Xương Vai Phải từ đoản kiếm của Nhạc Thanh Diệp mười năm trước. Chất độc tà môn ấy đã ăn sâu vào tủy xương, liên tục hoại tử da thịt, vĩnh viễn tước đi khả năng cầm kiếm hay giương cung bằng lực tay phải của cựu thống lĩnh Thần Tiễn Doanh lừng lẫy năm nào.
Một cơn gió lốc bất chợt giật mạnh, cuốn theo một vốc cát thô đập thẳng vào mặt Hoài Thương. Áp lực của gió lạnh kích phát độc tố ẩn sâu trong xương tủy. Một cơn đau buốt nhói, dữ dội như ngàn vạn cây kim băng nung đỏ đâm xuyên qua khớp vai phải, lan nhanh xuống lồng ngực rồi chạy thẳng xuống đôi chân.
Hoài Thương khựng lại, chiếc rìu sắt trong tay trái suýt nữa tuột khỏi lòng bàn tay đầy chai sạn. Anh cắn chặt răng đến mức nghe thấy tiếng xương quai hàm nghiến vào nhau ken két, trán nổi đầy gân xanh cuồn cuộn. Anh không rên rỉ một tiếng, chỉ có hơi thở thở ra hóa thành những làn sương trắng đục, dồn dập giữa trời đông lạnh giá.
Anh chậm rãi buông rìu, dùng tay trái khỏe mạnh vịn vào thành giếng đất rỉ sét bên cạnh, khó khăn lết bàn chân trái quấn băng vải đen dày tiến về phía chiếc gáo dừa cũ. Bên trong gáo là thứ nước đục ngầu, chát đắng – Nước Giếng Muối Thôn Sa Thảo.
Thứ nước giếng muối này đối với dân làng nghèo là nỗi cực hình vì vị đắng chát khó nuốt, nhưng với Hoài Thương, hàm lượng khoáng muối cực cao của nó lại là vị thuốc bảo mệnh duy nhất lúc này. Anh bưng gáo nước lên, ngửa cổ uống một ngụm lớn. Vị đắng chát xộc thẳng lên mũi, nhưng cái lạnh buốt của nước muối chảy xuống cổ họng nhanh chóng xoa dịu đi cơn nóng ran của độc tố đang tàn phá bả vai.
“Thương nhi... con lại phát bệnh rồi sao?”
Một giọng nói run rẩy, khàn khàn vang lên từ cửa nhà tranh. Lý nương – bà lão góa phụ ngoài sáu mươi tuổi, lưng còng rạp dưới chiếc áo vải thô vá chằng vá đụp, chậm rãi bước ra. Bàn tay nhăn nheo, run rẩy của bà bưng một bát cháo loãng bốc khói nghi ngút, ánh mắt ngập tràn sự lo lắng và từ tâm nhìn gã què chẻ củi mà bà đã cứu mạng ba năm trước bên bờ sông cạn.
“Không sao, thưa Lý nương. Con quen rồi.” Hoài Thương chậm rãi đặt gáo dừa xuống, giọng nói trầm thấp, lầm lì dường như đã lâu không giao tiếp với thế giới bên ngoài. Anh cố ý hạ vai phải xuống thấp hơn để che giấu vết sẹo đang rỉ máu đen thấm qua lớp áo mỏng.
“Con ăn bát cháo nóng này đi.” Lý nương đặt bát cháo lên chiếc bàn gỗ sứt sẹo bên hiên. “Gió Nhạn Môn hôm nay thổi độc quá, hay là nghỉ một ngày? Đống củi kia cũng đủ dùng cho ba ngày tới rồi.”
Hoài Thương nhìn bát cháo loãng chỉ có vài hạt gạo nổi lên giữa làn nước trong veo, lòng dâng lên một nỗi xót xa thầm lặng. Ở cái nơi Nhạn Môn Quan hoang vu này, mạng người rẻ rúng như cỏ rác dưới gót giày của phản quân Vân Trung. Dân nghèo thôn Sa Thảo bị bóc lột đến tận xương tủy, miếng ăn hàng ngày phải đánh đổi bằng mồ hôi và cả máu.
“Con chẻ nốt chỗ này, kiếm thêm vài đồng Tiền Đồng Rỉ Sét Biên Ải để ngày mai mua ít muối hạt.” Hoài Thương lắc đầu, tay trái lại nhấc chiếc rìu nặng nề lên. Anh cần tiền, không chỉ để sinh tồn, mà còn để âm thầm thu mua những mẩu sắt vụn phế liệu từ tiệm rèn dạo. Dưới gầm giường rách nát của anh, một bao tải chứa đầy sắt phế liệu đang được tích góp từng ngày để chuẩn bị đúc những mũi tên sắt nặng mười cân đầu tiên.
Lý nương thở dài, định khuyên thêm thì đột nhiên, mặt đất dưới chân họ khẽ rung nhẹ.
“Cộc! Cộc! Cộc!”
Tiếng móng ngựa chiến dẫm đạp lên nền đất đá khô cằn vang lên dồn dập từ đầu thôn, kèm theo tiếng la hét hoảng loạn của dân làng và tiếng roi da quất vun vút vào không khí.
Sắc mặt Lý nương lập tức trắng bệch, bà run rẩy nắm lấy vạt áo xám của Hoài Thương: “Tuần binh... Tuần binh phản quân đến thu thuế bảo an tháng này rồi! Sao lại sớm thế này...”
Chưa đầy mười nhịp thở, chiếc cổng tre xộc xệch của Nhà tranh Lý nương bị một cú đạp tàn bạo hất văng sang một bên. Ba tên lính tuần mặc giáp da rách rưới, tay lăm lăm thiết thương xông vào sân. Dẫn đầu chúng là một gã trung niên mập mạp, mặc chiến giáp sắt gỉ sét tiêu chuẩn của phản quân Vân Trung, khuôn mặt đầy mỡ bóng loáng hằn rõ vẻ hung tợn. Tay phải gã cầm một chiếc roi sắt dài đúc bằng thép ròng rỉ sét.
Đội trưởng tuần binh phản quân – Vương Mãnh.
“Mẹ kiếp cái thôn rách nát này, bão cát thổi bẩn hết cả giáp của ta!” Vương Mãnh khạc một bãi đờm đặc xuống đống củi Hoài Thương vừa chẻ, ánh mắt ti hí lướt qua sân nhỏ rồi dừng lại trên người Lý nương và gã què đứng cạnh giếng.
“Lão bà già! Thuế bảo an tháng này của nhà ngươi đâu? Năm mươi đồng tiền đồng rỉ sét, không thiếu một cắc!” Vương Mãnh vung roi sắt gõ mạnh xuống bàn gỗ, khiến bát cháo loãng đổ ập xuống đất, nước cháo nóng hổi bắn tung tóe.
Lý nương run cầm cập, vội vàng quỳ sụp xuống đất cát bụi bặm, van xin: “Quan lớn bớt giận! Quan lớn thương tình! Tháng trước bão cát làm hỏng hết ruộng sắn dại, thân già này không kiếm đâu ra năm mươi đồng... Xin quan lớn cho khất đến cuối tháng...”
“Khất? Triều đình biên phòng quân Vân Trung không có lệ cho khất!” Một tên lính tuần đứng sau hét lớn, vung thiết thương đâm thẳng vào hũ muối đất nung đặt góc hiên nhà.
“Rầm!”
Hũ muối vỡ tan tành. Lý nương hoảng hốt cố nhào tới dùng thân mình che chắn những hạt muối ít ỏi bên trong, nhưng bị tên lính tuần tàn nhẫn vung chân gạt ngã. Bà lão ngã nhoài ra đất đá sắc nhọn, lòng bàn tay bị gốm vỡ cứa rách, máu tươi rỉ ra nhuộm đỏ đất cát cát bụi.
Ở góc tối bên giếng muối, Nhạc Hoài Thương chứng kiến toàn bộ cảnh tượng đó.
Một luồng sát khí vô hình, lạnh lẽo tột cùng bộc phát từ sâu trong đáy mắt anh. Bàn tay trái nắm cán rìu sắt siết chặt đến mức các khớp xương kêu răng rắc, gân xanh nổi cuồn cuộn như những con rắn nhỏ bò trên cánh tay. Đôi chân tàn tật của anh vô thức gồng cứng, gót chân trái bấm sâu xuống nền đất giếng muối cát lún theo thế đứng tấn Thối Thể Đạp Địa Pháp. Lực ép mạnh đến mức lớp băng vải đen quấn chân rách nhẹ.
Anh muốn giết người.
Với cự ly năm bước chân, chỉ cần một cú vung rìu bằng tay trái khỏe mạnh, anh hoàn toàn có thể chém bay đầu tên lính tuần trước khi gã kịp nhận ra. Nhưng... lý trí lạnh lùng của một cựu thống lĩnh sa trường đã giữ anh lại.
Vai phải của anh đã phế vĩnh viễn, anh chưa tìm lại được cánh cung Huyền Thiết Trọng Cung của tổ phụ dưới lòng mỏ cũ, dây cung chưa có, tên sắt chưa đúc xong. Nếu anh ra tay sát hại tuần binh ở đây, Vương Mãnh chỉ là một tên tép riu, nhưng đại quân phản quân tại Trạm gác số 4 cách đó ba dặm sẽ lập tức kéo đến san phẳng thôn Sa Thảo. Lý nương, cậu bé A Bảo và toàn bộ dân làng nghèo vô tội sẽ bị tàn sát không chừa một mạng để thị uy.
Anh phải nhẫn nại. Nhẫn nại tột cùng để bảo toàn sinh mệnh cho những người đi theo mình.
Hoài Thương hít sâu một hơi, vận dụng Sa Trường Tức Sàng Pháp để triệt tiêu hoàn toàn sát khí đang sôi sục trong lồng ngực, đưa nhịp tim xuống mức tối thiểu. Anh buông chiếc rìu sắt xuống đất, bước ra khỏi bóng tối của giếng muối với dáng đi khập khiễng, tàn phế đầy tội nghiệp.
“Quan lớn... bớt giận.”
Hoài Thương cúi đầu thật thấp, vai phải buông thõng dị dạng đung đưa vô lực trước gió lạnh. Anh dùng tay trái khỏe mạnh run rẩy thò vào ngực áo vải thô rách nát, lôi ra một túi vải nhỏ bẩn thỉu chứa những đồng Tiền Đồng Rỉ Sét Biên Ải tích góp từ việc chẻ củi thuê hàng tháng trời.
Anh quỳ một gối xuống đất cát cát bụi, dâng túi tiền bằng tay trái lên trước mũi ủng bẩn thỉu của Vương Mãnh: “Đây là ba mươi đồng tiền đồng... toàn bộ gia sản của chúng con. Xin quan lớn tha cho Lý nương.”
Vương Mãnh cúi xuống, giật phắt lấy túi tiền, mở ra đếm qua rồi nhổ nước bọt khinh bỉ: “Ba mươi đồng? Vẫn thiếu hai mươi đồng! Gã què nhà ngươi chẻ củi cả tháng trời chỉ đáng giá thế này sao?”
Vương Mãnh bước tới một bước, vung chiếc roi sắt dài gạt mạnh vào cằm Hoài Thương, ép anh phải ngẩng khuôn mặt bẩn thỉu lên. Đầu roi sắt gỉ sét lạnh lẽo, thô ráp miết chặt vào làn da cổ hằn sâu vết sẹo của Hoài Thương, rạch ra một đường xước nhỏ rỉ máu đỏ tươi.
“Nhìn kỹ thì... ngươi trông quen mắt lắm.” Vương Mãnh nheo đôi mắt hí đầy thịt mỡ, dí sát mặt vào Hoài Thương, mỉa mai: “Vai phải hoại tử thế này... giống hệt bọn tàn phế của Thần Tiễn Doanh cũ mười năm trước bị gia tộc tước bỏ binh quyền đuổi ra sa mạc tự sinh tự diệt. Ha ha! Đều là một lũ chó tàn phế không nhà để về!”
Nói xong, Vương Mãnh cười lớn, vung roi sắt quất mạnh một phát vào đống củi Hoài Thương vừa chẻ làm củi bay tung tóe, thể hiện sự uy hiếp tuyệt đối của kẻ nắm giữ binh quyền sa trường.
Hoài Thương cúi đầu giấu đi đôi mắt đang co thắt dữ dội vì lửa hận. Anh gồng cứng cơ đùi chân trái bám chặt vào nền đất cát mịn dưới chân, móng chân bấu sâu qua lớp băng vải để giữ thăng bằng cơ thể không bị quỵ ngã trước sức nặng của roi sắt đè trên cằm. Anh im lặng chịu đựng sự sỉ nhục tột cùng này, giả vờ run rẩy sợ hãi.
Lý nương khóc lóc van xin, cố thu nhặt những đồng tiền rơi rụng dâng nốt cho tên lính tuần đứng cạnh. Vương Mãnh thu tiền, hừ lạnh một tiếng rồi dắt roi sắt vào hông, chuẩn bị quay lưng bỏ đi.
Nhưng đúng lúc gã xoay người, gót ủng da nặng nề của gã va mạnh vào cạnh chiếc giường tre rách nát đặt sát vách tường đất ngoài hiên của nhà tranh.
“Cộp!”
Tiếng va chạm phát ra một âm thanh trầm đục, nặng nề bất thường, hoàn toàn không giống tiếng gỗ tre rỗng va đập. Chiếc giường tre khẽ dịch chuyển, để lộ một góc chiếc bao tải vải thô xám giấu sâu dưới gầm giường.
Vương Mãnh khựng lại. Đôi mắt hí đầy thịt mỡ của gã lập tức híp chặt lại đầy nghi ngờ. Là một đội trưởng tuần tra dày dạn kinh nghiệm bóc lột, gã cực kỳ nhạy cảm với những âm thanh kim loại nặng nề.
“Khoan đã.” Vương Mãnh giơ tay ra hiệu cho lính tuần dừng lại.
Gã chậm rãi quay người lại, dùng mũi roi sắt hất vạt giường tre rách nát lên, chỉ vào chiếc bao tải xám bẩn thỉu: “Cái gì dưới gầm giường kia?”
Lòng Hoài Thương lập tức chùng xuống.
Bên trong chiếc bao tải đó không phải là thứ gì khác, mà chính là mười lăm cân sắt huyền thiết phế liệu rỉ sét bám đầy bụi than mỏ mà anh đã lén lút thu gom suốt nửa năm qua từ tiệm rèn Thiết Đâu và mộ kiếm phế thải. Số sắt phế liệu này là nguyên liệu cốt lõi để anh chuẩn bị đúc những mũi tên sắt nặng mười cân Thập Cân Thiết Tiễn chịu được lực kéo Tam Thạch Trọng Kình.
Dưới luật cấm nghiêm ngặt của phản quân Vân Trung và Nhạc thế gia tại biên giới, phàm nhân tàng trữ sắt huyền thiết và vũ khí nặng là tội chém đầu thị chúng không cần xét xử. Nếu chiếc bao tải bị mở ra lúc này, toàn bộ hành tung và kế hoạch báo thù của Hoài Thương sẽ đổ sông đổ biển.
“Thưa quan lớn... đó chỉ là sắt vụn gỉ sét con nhặt được ngoài bãi rác để sửa lại lưỡi rìu chẻ củi...” Hoài Thương cố giữ giọng nói run rẩy, lóng ngóng van xin.
“Sắt vụn?” Vương Mãnh cười lạnh, bước tới vung chân đạp mạnh một phát vào chiếc bao tải.
“Keng!”
Tiếng va chạm kim loại đanh thép, trầm đục vang lên rõ mồn một giữa không gian im lặng của nhà tranh. Đó tuyệt đối không phải là thứ sắt vụn rỉ sét thông thường mỏng manh, mà là tiếng vang cực kỳ đặc trưng của quặng sắt huyền thiết thô siêu cứng.
Khuôn mặt mập mạp của Vương Mãnh biến đổi từ nghi ngờ sang kinh ngạc, rồi hóa thành một nụ cười tàn độc dã man. Gã cúi xuống dùng roi sắt móc vào miệng bao tải kéo mạnh ra một góc, để lộ những khối quặng sắt đen bóng loáng dính đầy bụi than đá.
“Sắt huyền thiết quân dụng!” Vương Mãnh gầm lên, ánh mắt đầy tham lam và sát khí nhìn trừng trừng vào Hoài Thương. “Một gã què chẻ củi rách rưới lại tàng trữ hàng chục cân sắt huyền thiết chất lượng cao thế này? Ngươi lấy từ đâu ra? Có phải ăn trộm từ kho quặng của mỏ cũ không? Hay là định rèn đúc binh khí phản nghịch?”
Lý nương hoảng hốt nhào tới ôm lấy chân Vương Mãnh: “Quan lớn tha mạng! Nó thực sự chỉ nhặt sắt vụn kiếm sống thôi... Nó què quặt thế này thì làm phản thế nào được...”
“Cút ra!” Vương Mãnh vung chân đạp văng Lý nương ra sân cát cát bụi. Bà lão rên rỉ đau đớn, không thể gượng dậy nổi.
Hoài Thương nhìn Lý nương ngã quỵ, máu tươi từ bàn tay rách của bà thấm đẫm đất cát dã ngoại. Cơn đau hoại tử vai phải lại bộc phát dữ dội như muốn xé rách lồng ngực anh làm đôi. Nhưng đôi mắt ưng sa mạc của anh vẫn khóa chặt vào Vương Mãnh, âm thầm tính toán cự ly áp sát cận chiến tầm ngắn bằng tay trái.
Vương Mãnh không lập tức rút đao chém người. Gã nhìn đống sắt huyền thiết quý giá dưới gầm giường, lòng tham vô đáy trỗi dậy. Gã biết rõ giá trị liên thành của số quặng sắt huyền thiết thô này trên thị trường đen Trung Nguyên. Nếu gã âm thầm tịch thu và báo cáo lập công với chấp sự Nhạc Hải, chức vị thống lĩnh tháp canh biên thành Vân Trung chắc chắn sẽ thuộc về gã.
Vương Mãnh cười khẩy, đá chiếc giường tre sập xuống che khuất bao tải sắt, rồi chỉ roi sắt vào mặt Hoài Thương:
“Hôm nay bão cát lớn quá, ta không rảnh dọn dẹp đống rác này của ngươi. Nhưng nghe cho rõ đây gã què...” Vương Mãnh dí sát đầu roi sắt gỉ sét vào trán Hoài Thương, nghiến răng gằn từng chữ:
“Sáng sớm ngày mai, ta sẽ dẫn một đội tuần binh đầy đủ đến lục soát triệt để cái nhà tranh rách nát này. Nếu ta tìm thấy một mẩu sắt quân dụng hay bất kỳ thứ gì liên quan đến Thần Tiễn Doanh cũ... ta sẽ treo cổ cả hai mạng già trẻ các ngươi lên cổng thôn Sa Thảo cho quạ mổ!”
Nói xong, Vương Mãnh vung tay ra hiệu cho lũ lính tuần rút lui. Tiếng móng ngựa chiến lại vang lên dồn dập rồi khuất dần sau màn bão cát xám xịt ngoài đầu thôn, để lại bầu không khí im lặng đến đáng sợ trong sân nhỏ.
Gió sa mạc lại rít lên qua những khe đá nứt nẻ của nhà tranh Lý nương.
Hoài Thương đứng lặng người giữa sân cát bụi bặm. Anh chậm rãi cúi xuống, đỡ Lý nương dậy bằng tay trái khỏe mạnh, giúp bà phủi sạch cát bụi bám đầy áo vải rách nát. Bàn tay bà rách thịt rớm máu đỏ tươi, run rẩy bám lấy vai anh.
“Thương nhi... con chạy trốn đi... chạy trốn ngay đêm nay đi con...” Lý nương khóc nghẹn ngào, giọng nói đầy tuyệt vọng. “Bọn chúng ngày mai sẽ giết con mất...”
Hoài Thương im lặng không đáp. Anh đưa bà vào trong nhà tranh, đặt bà nằm nghỉ trên chiếc giường rơm cũ kỹ, sắc thuốc đắp giảm đau từ ngải cứu dã ngoại đắp lên bàn tay rách thịt của bà.
Khi đêm đen hoàn toàn nuốt chửng Nhạn Môn Quan, bão cát ngoài trời gào rú dữ dội hơn bao giờ hết. Gió rít qua khe cửa đất nứt nẻ tạo thành những âm thanh u uất như tiếng khóc than của vạn vong linh chiến hữu đã khuất mười năm trước.
Hoài Thương ngồi xếp bằng bất động trong góc tối tăm của gian nhà tranh rách nát. Anh uống một ngụm Nước Giếng Muối Thôn Sa Thảo đắng chát cuối cùng để tạm thời phong tỏa cơn đau hoại tử xương vai phải đang phát tác hành hạ tột cùng thể xác.
Ánh mắt anh nhìn trừng trừng vào chiếc bao tải chứa mười lăm cân sắt huyền thiết thô dưới gầm giường.
Mối đe dọa lục soát nhà tranh vào sáng sớm ngày mai của Vương Mãnh đang đè nặng lên ngực anh như một tảng đá ngàn cân. Anh buộc phải di dời toàn bộ đống sắt phế liệu này đến nơi ẩn náu an toàn khác ngay trong đêm tối bão cát cực đoan này, trước khi trời sáng và truy binh ập đến.
Nhưng bả vai phải của anh đang hoại tử rỉ máu đen, gối chân trái sưng tấy do đứng tấn chịu lực phản chấn, và ngoài kia, màn bão cát mịt mù đang chực chờ nuốt chửng mọi dấu chân.
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên!