Xe Đẩy Gỗ Trong Đêm
Mưa. Những hạt nước nặng như đá dăm trút xuống mái ngói lò rèn Nhạn Môn Trấn, tạo nên những tiếng lộp bộp, lộp bộp liên hồi, chìm lấp hoàn toàn mọi âm thanh của trần thế. Gió biên thùy rít lên từng cơn điên cuồng, quật gãy những cành trúc đen ngoài ngõ tối, thốc thẳng hơi lạnh buốt và mùi bùn đất ẩm ướt vào gian lò nung đã nguội lạnh. Bầu trời đêm đen kịt như một hũ mực khổng lồ bị đổ nhào, thỉnh thoảng lại bị xé toạc bởi những tia chớp trắng thếch, rạch dọc bầu trời hoang dã rồi lặn mất tăm sau rặng núi đá xám.
Bên trong lò rèn, Thẩm Độc Hành đứng lặng lẽ bên chiếc xe đẩy gỗ thô hai bánh tự rèn. Cánh tay phải của ông rũ thõng xuống bên hông như một khúc gỗ mục không hề có chút sinh khí, lớp băng gạc vải thô đen dính đầy máu khô sẫm quấn chặt từ cổ tay lên đến bắp vai. Vết rạch thải độc hình chữ thập trên mu bàn tay phải vẫn còn rỉ ra những giọt máu loãng màu sẫm, lạnh ngắt dưới làn gió lùa. Sau trận quyết chiến bên bờ suối Hắc Thủy hồi sáng, kinh mạch vai phải của ông đã hoàn toàn hoại tử tạm thời, liệt gân cốt, không thể cầm nắm hay vận lực. Mọi sức nặng của cuộc sinh tồn lúc này đều dồn lên bờ vai trái khòm khòm và cánh tay trái chai sạn.
Nhưng vết thương roi sắt của Tống Hùng trên bả vai trái cũng chẳng khá hơn. Mỗi lần ông khòm lưng dọn dẹp, vết thương rách da bục chỉ cũ lại rỉ máu, thấm loang lổ cả một mảng vai áo vải thô ám khói muội than. Thẩm Độc Hành không một tiếng rên rỉ. Gương mặt đầy nếp nhăn gió sương và vết sẹo bỏng lớn bên má trái của ông phẳng lặng như đá bia sa trường. Ông dùng bàn tay trái dẻo dai xếp những tấm da thú dày cộp hôi hám mùi mỡ bò xuống ngăn bí mật dưới đáy xe đẩy gỗ thô. Đây là chiếc xe đẩy ông tự đóng từ gỗ sồi già và phế liệu sắt, dưới đáy có ngăn rỗng sâu nửa thước, đủ để che giấu ba đứa trẻ mồ côi khỏi tai mắt tuần binh.
"Thanh nhi, Vân nhi, Vũ nhi. Vào đi."
Giọng Thẩm Độc Hành trầm đục, khàn đặc như tiếng hai mảnh sắt rỉ miết vào nhau. Ông không nhìn vào góc tối, nơi Tạ Thanh đang đứng tựa lưng vào vách gỗ mục.
Tạ Thanh mười bốn tuổi, gương mặt lấm lem than củi lạnh lùng đến đáng sợ. Thiếu niên một tay ôm chặt lấy mạn sườn trái bị rạn xương sườn cũ – vết thương âm ỉ đau nhức mỗi khi trời trở lạnh – tay kia nắm chặt thanh kiếm gỗ tự đẽo bằng củi rừng trúc. Cặp mắt sáng của cậu dán chặt vào cổ tay phải rách gạc của cha nuôi, nơi vết sẹo thích chữ hình chữ thập đao phủ hoàng gia đen kịt đang lộ ra dưới ánh chớp lập lòe. Sự căm hận tột cùng và nỗi dằn vặt nghi kỵ nợ máu cũ đóng băng giữa hai người suốt một năm qua nay đã vỡ lở. Cậu biết gã què này chính là đao phủ đã chém đầu cha mình, tướng quan Tạ Hoài An, trên pháp trường Thần Đô.
"Thúc thật sự nghĩ rằng có thể đưa chúng tôi trốn thoát bằng chiếc xe đẩy nát này sao?" Tạ Thanh rít qua kẽ răng, giọng mỏng dính nhưng sắc lẹm như dao mổ. "Ảnh Sát Các và Độc Nhãn Long sẽ băm vằm thúc thành vạn mảnh. Thúc cứu chúng tôi chỉ để xoa dịu cái lương tâm đầy máu của một gã sát nhân triều đình thôi đúng không?"
Thẩm Độc Hành im lặng. Ông không tự bào chữa, cũng không phủ nhận tội lỗi quá khứ. Ông cúi người, dùng tay trái bế bé gái Tạ Vũ bảy tuổi vào ngăn đáy xe đẩy. Cô bé nhút nhát, da dẻ xanh xao vì suy nhược sau đêm thảm sát gia tộc, hai tay ôm khư khư chiếc trâm cài tóc bằng bạc chạm hình hoa mai – kỷ vật duy nhất của mẫu thân. Tạ Vũ bám lấy vạt áo thô của Thẩm Độc Hành, đôi mắt tròn xoe ngập tràn nước mắt vì sợ hãi tiếng sấm sét gầm rú bên ngoài. Đối với cô bé ngây thơ, gã thợ rèn què lầm lì này là chỗ dựa an toàn duy nhất còn lại trên đời.
"Vũ nhi ngoan, nhắm mắt lại. Đừng sợ tiếng sấm," Thẩm Độc Hành thầm thì, giọng nói thô ráp bỗng mềm lại một nhịp. Ông đắp tấm da thú ấm áp lên người cô bé, che khuất tầm nhìn của đứa trẻ khỏi bóng tối giang hồ tàn khốc phía trước.
Tiếp theo là Tạ Vân mười một tuổi. Cậu bé bướng bỉnh, lanh lợi thường ngày nay ngơ ngác, bám chặt lấy mạn xe gỗ mục. Cậu chưa hiểu hết mối thù giết cha giữa anh cả và cha nuôi, chỉ biết ngoan ngoãn chui vào nằm sát bên em út.
Tạ Thanh đứng trơ trọi dưới ánh chớp. Cậu nhìn hai em nhỏ đã nằm gọn dưới đáy xe đẩy ấm áp, nhìn bả vai trái rỉ máu loang lổ của Thẩm Độc Hành, rồi cúi đầu bước vào ngăn bí mật. Thiếu niên nằm nghiêng, tay vẫn ôm chặt thanh kiếm gỗ gãy, ánh mắt đầy oán hận nhìn bóng lưng cha nuôi qua khe hở của tấm ván gỗ ngụy trang.
Thẩm Độc Hành dùng tay trái kéo tấm ván sồi đậy kín ngăn bí mật lại. Lên trên, ông xếp vội những bao than củi trúc đen dính nước mưa, vài mảnh sắt vụn sa trường rỉ sét và những thanh củi ướt. Nhìn bên ngoài, đây chỉ là chiếc xe đẩy chở phế liệu tồi tàn của một gã thợ rèn nghèo khổ đi kiếm ăn qua ngày bão táp. Ông lầm lì nhặt thanh đại đao phủ rỉ sét quấn vải thô đen và tấm khiên sắt nứt vỡ gác bên hông xe đẩy, chuẩn bị sẵn sàng cho tử lộ.
Ông khoác sợi dây thừng thô ráp qua bờ vai trái khòm khòm. Sợi dây thừng dính nước mưa lạnh buốt, thô ráp như gai nhọn, lập tức cứa mạnh vào vết thương roi sắt bục chỉ rỉ máu trên vai trái. Thẩm Độc Hành nghiến chặt răng, bắp thịt vai trái co rút dữ dội. Ông dồn toàn bộ kình lực Phàm Kình cực hạn vào đôi chân chai sạn, rướn người về phía trước.
"Két... két..."
Chiếc xe đẩy gỗ thô nặng nề lăn bánh, trục gỗ rít lên những tiếng khô khốc dưới sức nặng của ba đứa trẻ và đống sắt phế liệu. Thẩm Độc Hành lầm lỳ kéo xe bước ra khỏi lò rèn cũ nát, hướng thẳng về phía ngõ tối phía Tây Nhạn Môn Trấn dưới làn mưa xối xả.
Đêm mưa bão Nhạn Môn Trấn lạnh buốt thấu xương. Nước mưa tuôn xối xả làm giảm tầm nhìn xuống không quá ba bước chân, sương mù dày đặc từ sông Hắc Thủy bốc lên cuồn cuộn, bao phủ các ngõ hẻm lầy lội một màu xám xịt rùng rợn. Thẩm Độc Hành đi khập khiễng, chân trái hơi què kéo lê trên mặt đất bùn nhão nhoét. Mỗi bước đi của ông là một cực hình thể xác. Bùn lầy ngập đến cổ chân, nước mưa lạnh buốt xối thẳng vào vết rạch tay phải rách miệng rỉ máu tươi, khiến cánh tay phải hoàn toàn liệt của ông run rẩy dữ dội hơn dưới lớp gạc thô.
"Rắc!"
Bánh xe bên phải đột ngột sụp sâu xuống một bũng bùn lún chứa đầy đá hộc ẩn dưới dòng nước lũ chảy xiết. Chiếc xe đẩy gỗ thô khựng lại, nghiêng hẳn sang một bên. Dưới ngăn bí mật, tiếng Tạ Vũ khẽ nấc lên vì sợ hãi, tiếng Tạ Thanh xì xào vỗ về em nhỏ lọt qua khe ván gỗ.
Thẩm Độc Hành dừng lại. Ông dùng vai trái gồng lực giữ thăng bằng để xe không bị lật úp xuống bùn lầy. Cánh tay phải hoại tử hoàn toàn vô dụng, ông chỉ còn một tay trái khỏe mạnh để xử lý hiểm cảnh. Thẩm Độc Hành khòm lưng, luồn bả vai trái vào dưới trục bánh xe gỗ bị kẹt. Vết thương bục chỉ vai trái đau nhói như bị hàng vạn cây kim bạc nung đỏ đâm sâu vào xương tủy, máu tươi đỏ sẫm loang ra loãng màu dưới làn mưa xối xả, thấm đẫm ngực áo thô.
Ông nín thở điều hòa nhịp tim theo nhịp thở cơ hoành, dốc toàn bộ sức mạnh Phàm Kình đỉnh phong của bắp chân và vai trái.
"Hự!"
Một tiếng gầm đục khàn vang lên trong cổ họng Thẩm Độc Hành. Ông dùng sức mạnh cơ bắp cực hạn nhấc bổng trục xe gỗ nặng nề lên khỏi bũng bùn lún. Khớp vai trái phát ra tiếng kêu khục nhỏ đau đớn, cơ vai bị rách sâu thêm một mảng lớn. Chiếc xe đẩy gỗ vượt qua bũng lún, nhưng trục bánh xe bằng gỗ sồi đã xuất hiện một vết nứt nhẹ do va chạm mạnh với đá hộc dưới nước lũ.
Tạ Thanh nằm dưới ngăn bí mật, mắt dán chặt vào khe hở tấm ván. Dưới ánh chớp lóe sáng ngoài trời, thiếu niên nhìn thấy rõ ràng những giọt máu tươi đỏ sẫm từ vai trái của cha nuôi nhỏ giọt xuống ván gỗ, bị nước mưa cuốn trôi loãng màu đen kịt. Lồng ngực gầy gò của cậu bé phập phồng dữ dội. Sự căm hận giết cha vẫn rực cháy, nhưng cảnh tượng gã què tàn phế gồng mình gánh chịu đau đớn tột cùng để bảo vệ ba anh em cậu dưới đêm mưa bão khiến tâm trí thiếu niên rơi vào sự giằng xé điên cuồng.
Thẩm Độc Hành không dừng lại để thở. Ông quấn chặt lại dây thừng kéo xe, tiếp tục lầm lũi đẩy chiếc xe tiến về phía cổng phụ của Nhạn Môn Trấn. Ông chọn con đường này vì biết cổng chính đang bị cấm vệ tuần phòng Thiết Lang canh gác nghiêm ngặt với năm trăm thương binh và cung tên cực mạnh, chiếc xe đẩy gỗ thô chở lũ trẻ chắc chắn sẽ bị lục soát triệt để nếu đi qua đó.
Trước mắt ông hiện ra rào chắn xích sắt khổng lồ của cổng phụ. Ánh đuốc dầu hỏa của chòi gác bị gió bão quật tắt lịm, chỉ còn lại ánh sáng mờ ảo của chiếc đèn lồng giấy rách nát treo đung đưa dưới mái hiên tuần phòng sộc sệch rỉ sét.
Lão Lưu – gã lính tuần gác cổng già nua, nghiện rượu – đứng tựa lưng vào vách gỗ gác cổng phụ, tay cầm chiếc bình hồ lô đựng rượu cũ nát treo bên hông. Lão mặc bộ giáp tuần phòng rách nát sộc sệch, râu tóc bạc trắng xơ xác dính bết nước mưa, mắt kèm nhèm nhìn ra màn sương mù dày đặc.
Thẩm Độc Hành dừng xe đẩy cách rào chắn xích sắt mười bước chân. Ông dùng bàn tay trái khỏe mạnh nhặt chiếc búa rèn sắt nhỏ dắt bên hông xe, gõ nhẹ ba lần vào vành đai sắt của bánh xe đẩy gỗ thô.
"Cộc. Cộc. Cộc."
Tiếng kim loại gõ giòn dã vang lên giữa tiếng mưa rơi xối xả. Đây là mật hiệu liên lạc cũ của tàn binh Thần Sách Quân biên ải năm xưa mà chỉ những cựu binh sa trường mới nhận biết được.
Lão Lưu đang lờ đờ bỗng giật mình, mắt lão sáng lên một tia thần sắc sắc lẹm trong bóng tối rồi lập tức mờ đục trở lại dưới lốt một lão già say xỉn. Lão lảo đảo bước ra khỏi bốt gác, vừa đi vừa lầm bầm chửi rủa cái thời tiết bão bùng chết tiệt:
"Ai đó? Đêm hôm bão bùng thế này... chỉ có lũ quỷ đầm lầy mới đi lang thang ngoài đường! Cút đi! Cổng trấn đã đóng theo lệnh tri phủ!"
Thẩm Độc Hành kéo xe đẩy tiến lại sát rào chắn xích sắt rỉ sét, ông không ngước đầu lên, giọng trầm đục khàn đặc:
"Lưu lão ca. Là tôi, Thẩm què ở lò rèn phía Tây. Đêm mưa bão dột mái lò, tôi phải đẩy xe chở ít sắt vụn phế liệu sang tiệm rèn Chu Thiết bên kia bến đò để giao gấp cho khách mua lậu."
Lão Lưu bước lại gần xe đẩy, lão giả vờ say nhè ngã chúi người vào mạn xe đẩy gỗ thô. Đôi mắt lão già nua liếc nhanh qua ngăn bí mật dưới đáy xe đẩy lót da thú dày dặn, rồi dừng lại trên vết sẹo thích chữ hình chữ thập đao phủ rỉ máu trên cổ tay phải rách gạc của Thẩm Độc Hành. Lão Lưu khẽ thở dài một tiếng cực nhỏ, giọng nói lầm bầm đầy ẩn ý sa trường cũ:
"Sắt vụn phế liệu? Thẩm què... ngươi rèn nông cụ cả đời, sao đêm nay lại kéo xe nặng thế này? Vai trái bục cơ rỉ máu thế kia... không sợ phế luôn đôi tay sao?"
"Gia đình nghèo khó dắt díu nhau kiếm miếng ăn qua ngày bão, không dám ngại đau," Thẩm Độc Hành thầm thì, tay trái ông âm thầm siết chặt lấy chuôi thanh đại đao phủ rỉ sét quấn vải đen giấu dưới đống than củi trúc đen.
Lão Lưu nhìn chằm chằm vào Thẩm Độc Hành một nhịp thở dài, rồi lão quay người lảo đảo bước lại phía trục tời xích sắt gác cổng. Lão giả vờ slip chân ngã nhào vào trục quay, miệng hét lớn như kẻ say rượu mất kiểm soát gân cốt:
"A! Trơn quá! Trục tời bị rỉ sét tuột xích rồi!"
"Rầm rầm!"
Sợi xích sắt khổng lồ chặn cổng phụ bất ngờ tuột xích hạ xuống một khoảng trống rộng nửa trượng sát đất bùn lầy lội.
Thẩm Độc Hành không bỏ lỡ một nhịp thở. Ông dồn toàn bộ kình lực Phàm Kình đỉnh phong dẻo dai vào đôi chân, tay trái đẩy mạnh chiếc xe đẩy gỗ thô vượt qua cổng phụ rào chắn rỉ sét không gây ra một tiếng động lạ nào ra ngoài.
Khi chiếc xe đẩy gỗ đã lăn bánh qua ranh giới Nhạn Môn Trấn tiến ra bờ suối ngoài rìa biên giới hoang vắng, tiếng Lão Lưu vẫn lầm bầm khàn khàn vọng lại từ phía sau màn mưa xối xả:
"Đi nhanh đi gã què... Đêm nay gió thổi hướng Đông Bắc mang theo mùi hỏa dầu khét lẹt của bọn thổ phỉ Đồi Sói... Lò rèn cũ của ngươi... không có lối về đâu."
Thẩm Độc Hành khựng lại nửa nhịp chân gầy què, bờ vai trái rách cơ run rẩy nhẹ. Ông không quay đầu lại nhìn ngôi nhà lò rèn cũ gắn bó mười năm ẩn dật, dứt khoát khoác dây thừng kéo xe đẩy gỗ dấn thân vào màn sương mù dày đặc hướng về phía Bến đò sông Hắc Thủy hoang vắng.
Nhưng ngay khi chiếc xe đẩy gỗ vừa di chuyển cách ranh giới trấn được trăm bước chân, một luồng ánh sáng cam đỏ rực trời đột ngột bùng cháy từ phía Tây Nhạn Môn Trấn, xé toạc màn đêm mưa bão đen kịt.
Mùi lưu huỳnh khét lẹt và mùi dầu hỏa hắc ín nồng nặc theo hướng gió Đông Bắc thổi tới xộc thẳng vào khứu giác nhạy bén sa trường của Thẩm Độc Hành.
"Hí!!!"
Tiếng vó ngựa dồn dập dẫm đạp điên cuồng lên đất bùn lầy lội, hòa lẫn với tiếng la hét man dại của hàng trăm thảo khấu hắc bang Đồi Sói mang theo đuốc hỏa dầu cháy dữ dội bất chấp mưa bão đổ xuống. Ngọn lửa bùng phát dữ dội từ phía lò rèn cũ của Thẩm Độc Hành, thiêu rụi toàn bộ tàn tích bình yên cuối cùng của gia đình chắp vá thành tàn tro khói độc.
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên!