Kẻ Độc Hành Bóng Tối
Tiếng mưa bão gầm rú ngoài cửa sổ hiệu thuốc của Hoa Cô nương vẫn không hề có dấu hiệu hạ nhiệt. Từng luồng gió lạnh buốt rít qua khe cửa gỗ mục nát, mang theo hơi nước ẩm ướt và mùi đất cát nồng nặc của vùng biên thùy Nhạn Môn Trấn.
Trong gian phòng trong ấm áp ánh đèn dầu, không khí đột ngột đông cứng lại sau lời báo tin hớt hải của cô bé dược đồng Tiểu Thúy. Gương mặt nhỏ nhắn mười hai tuổi của cô bé cắt không còn một giọt máu, đôi bàn tay run rẩy bám chặt lấy vạt áo màu xanh nhạt của Hoa Cô nương. Ngoài ngõ tối, tiếng bước chân dồn dập dính bùn lầy và tiếng tra hỏi thô bạo của toán người lạ mặt mang binh khí dài đang ngày một áp sát.
Thẩm Độc Hành lặng lẽ đứng dậy từ chiếc ghế gỗ dài. Cánh tay phải của gã – vừa được Hoa Cô nương dùng kim bạc cổ và dược lực lạnh buốt của Hoắc cốt liên tươi đóng băng cơn đau hoại tử gân mạch – khẽ siết chặt lại. Gã cảm nhận được một luồng sinh cơ lạnh giá nhưng vững chắc đang chạy dọc theo các sợi gân cơ co rút, phục hồi tạm thời tám mươi phần mười lực nắm đao. Thế nhưng, bả vai trái bị thương do roi sắt của gã vẫn âm ỉ rỉ máu, thấm đen một mảng lớn lớp vải thô quấn tạm.
"Huynh phải đi ngay, Thẩm huynh," Hoa Cô nương khẽ nghiêng đầu, đôi mắt mù lòa của cô hướng về phía cửa sau của hiệu thuốc, giọng nói ôn nhu nhưng dứt khoát. "Lối cửa sau thông ra ngách hẻm Trúc Đen hoang vắng. Ta chỉ là một nữ y sĩ mù lòa bốc thuốc cứu người nghèo, bọn chúng là người của triều đình, không dám tùy tiện làm càn ở đây nếu không tìm thấy huynh. Nhưng ba đứa trẻ ở lò rèn... chúng đang đơn độc."
Thẩm Độc Hành không nói lời nào. Gã cúi đầu, dùng bàn tay trái khỏe mạnh nhặt lấy chiếc búa rèn sắt nặng hai mươi cân dựng góc tường, rồi lặng lẽ gật đầu với Hoa Cô nương như một lời cảm tạ câm lặng. Gã biết cô nói đúng. Sát thủ Ảnh Sát Các đang lùng sục ngõ tối phía Nam này chỉ là một nhánh tuần tra, mục tiêu thực sự của chúng là lò rèn ở rìa phía Tây trấn – nơi ba đứa trẻ họ Tạ đang lẩn trốn.
Gã thợ rèn què lách người băng qua cánh cửa sau, biến mất vào màn mưa đen ngòm của ngách hẻm Trúc Đen.
Mưa xối xả dội thẳng vào đầu, vào vai Thẩm Độc Hành, gột rửa đi mùi máu đen tanh hôi vừa được ép ra khỏi kinh mạch vai phải. Gã di chuyển như một bóng ma độc hành trong đêm bão. Cái chân trái què quặt kéo lê trên mặt bùn lầy lội, tạo thành những tiếng xoẹt xoẹt rất nhỏ, hoàn toàn bị lấp liếm bởi tiếng sấm sét gầm rú trên bầu trời.
Bằng nhãn quan sa trường và khứu giác nhạy bén, Thẩm Độc Hành dễ dàng né tránh các toán tuần tra mang binh khí dài quấn vải thô của Ảnh Sát Các. Gã lẩn khuất dưới bóng tối của những mái hiên nhà sập xệ, luồn lách qua các ngõ hẻm ngập nước, hướng thẳng về phía Tây Nhạn Môn Trấn. Trái tim gã thắt lại mỗi khi nghĩ đến việc Tạ Vũ ngây thơ hay Tạ Thanh bướng bỉnh có thể gặp nguy hiểm.
Khi Thẩm Độc Hành đẩy nhẹ cánh cửa gỗ rách nát của lò rèn bước vào, một bóng đen nhỏ bé đột ngột lao ra từ góc tối, thanh kiếm gỗ tự đẽo chỉ thẳng vào ngực gã.
Đó là Tạ Thanh. Thiếu niên mười bốn tuổi đứng thủ thế dưới ánh chớp sáng lòa ngoài cửa sổ, lồng ngực quấn gạc trắng bầm tím do cú đạp của Vương Đại Hổ phập phồng dữ dội. Cặp mắt sáng lạnh lùng của cậu dán chặt vào cha nuôi, tràn đầy sự cảnh giác và nghi kỵ tột cùng.
"Là ta," Thẩm Độc Hành lầm lì lên tiếng, giọng khàn đặc như tiếng sắt rỉ cọ xát. Gã đóng chặt cửa gỗ, cài then sắt chắc chắn.
Tạ Thanh chậm rãi hạ thanh kiếm gỗ xuống, nhưng bàn tay gầy gò vẫn siết chặt chuôi kiếm đến mức các khớp ngón tay trắng bệch: "Ông đã đi đâu? Ngoài kia... tôi nghe tiếng lính tuần phòng gõ cửa rầm rầm ở các nhà bên cạnh. Có phải bọn chúng tìm ông không?"
Thẩm Độc Hành không trả lời câu hỏi của thiếu niên. Gã lướt qua cậu, bước vào gian buồng trong. Dưới ánh đèn dầu leo lét, Tạ Vân đang nằm co quắp trên chiếc giường tre, gương mặt lấm lem than củi thỉnh thoảng khẽ nhăn lại vì đau đớn từ vết bầm tím trên vai. Đứa con út Tạ Vũ thì nằm sát bên anh trai, đôi bàn tay nhỏ nhắn vẫn ôm khư khư chiếc trâm cài tóc bằng bạc chạm hình hoa mai của mẫu thân, đôi mi mắt còn đọng những giọt nước mắt khô.
Nhìn thấy hai đứa trẻ vẫn an toàn, một hòn đá nặng trong lòng Thẩm Độc Hành tạm thời rơi xuống. Gã quay lại gian lò ngoài, nơi bệ nung đã nguội lạnh.
Sát thủ đang áp sát, lò rèn này sắp bị vây quét. Thẩm Độc Hành hiểu rằng gã cần phải gia cố lại vũ khí của mình. Gã không thể dùng thanh đao phủ rỉ sét mẻ nhiều vết để đối đầu với Phá Phong Đao của Trương Hùng nếu không đúc lại nó. Gã bước đến góc tối dưới bệ rèn, lôi ra một chiếc hòm gỗ cũ nát chứa những mảnh quặng sắt đen cổ xưa – loại huyền thiết thô cực nặng mà Tiền Lão Bản đã lén lút cho gã thu gom tại mỏ biên giới.
Thẩm Độc Hành bắt đầu nhen nhóm lại lửa lò rèn. Gã chất than củi trúc đen vào bệ nung, dùng ống bạt thổi mạnh cho đến khi ngọn lửa bùng lên một màu đỏ sậm rực nóng, tỏa hơi ấm xua đi cái lạnh buốt của đêm bão.
Gã đặt những mảnh quặng sắt đen cổ xưa vào nồi nung đất sét nung, rồi bắt đầu vận dụng kỹ thuật Rèn sắt triệt tiêu tiếng động. Đây là thủ pháp gõ búa đặc thù mà cựu đao sư Lý Thiết Ngưu từng truyền dạy. Mỗi khi tiếng sấm sét nổ vang rền trên bầu trời Nhạn Môn Trấn, Thẩm Độc Hành lại quai chiếc búa tạ nặng hai mươi cân nện xuống đe sắt.
"BOONG!"
Tiếng búa gõ đanh thép hoàn toàn đồng điệu với tiếng sấm rầm rú bên ngoài, khiến âm thanh rèn sắt không thể lọt ra khỏi vách gỗ lò rèn để đánh thức hàng xóm hay tai mắt quan phủ.
Tạ Thanh đứng tựa lưng vào vách ngăn gỗ mục, im lặng quan sát từng động tác của cha nuôi. Ánh lửa đỏ rực từ bệ nung chiếu rọi lên gương mặt đầy nếp nhăn gió sương và vết sẹo bỏng lớn bên má trái của Thẩm Độc Hành, khiến gã trông giống như một bức tượng đồng cổ xưa đang chịu đựng sự tôi luyện của lửa đỏ.
Thiếu niên mười bốn tuổi nhìn chằm chằm vào bắp tay trái cuồn cuộn gân xanh của Thẩm Độc Hành, rồi lại nhìn sang cánh tay phải quấn chặt gạc vải thô đen của gã. Cậu bé thầm nghĩ: gã què này rốt cuộc có bí mật gì? Tại sao một gã thợ rèn lầm lì, hèn nhát lại sở hữu kình lực Chấn Kình Đả Thiết đáng sợ đến thế? Và tại sao... ông ta lại dốc lòng bảo vệ anh em cậu khỏi sự truy sát của triều đình, dù cậu luôn đối xử với ông bằng sự lạnh lùng và hận thù?
Thẩm Độc Hành không để ý đến cái nhìn của Tạ Thanh. Gã tập trung toàn bộ tinh thần vào việc nung chảy quặng huyền thiết. Dưới nhiệt độ cực cao của than trúc đen, quặng sắt đen cổ xưa bắt đầu tan chảy, hóa thành một dòng dung dịch kim loại màu đỏ sậm đặc quánh, tỏa ra một luồng kình lực nặng nề, u tối. Gã dùng kìm rèn lôi thanh đại đao phủ rỉ sét nặng ba mươi cân ra khỏi bao gỗ mục, chuẩn bị dùng dòng huyền thiết này để gia cố lại lưỡi đao mẻ rách của mình.
Trời gần về sáng, cơn mưa bão gầm rú bắt đầu giảm dần uy lực, chuyển thành một trận mưa drizzle dai dẳng, lạnh buốt bao phủ toàn bộ Nhạn Môn Trấn trong một màn sương mù ẩm ướt, dày đặc.
"Cộc... Cộc... Cộc..."
Tiếng gõ cửa ngập ngừng, rụt rè vang lên từ phía cửa chính lò rèn.
Tạ Thanh lập tức giật mình, tay phải siết chặt thanh kiếm gỗ tự đẽo, mắt nhìn thẳng về phía Thẩm Độc Hành đầy lo sợ.
Thẩm Độc Hành khẽ giơ tay trái ra hiệu cho thiếu niên giữ im lặng và lùi vào buồng trong. Gã đặt chiếc búa rèn xuống đe sắt, bước đi khập khiễng ra phía cửa chính. Gã không vội mở cửa, mà áp tai vào vách gỗ, vận dụng khứu giác và thính giác nhạy bén để nhận diện hơi thở của kẻ đứng ngoài.
Hơi thở ngoài cửa dồn dập, run rẩy vì lạnh, mang theo mùi của bùn đất ướt và quần áo vải thô rách nát. Không có tiếng kim loại va chạm của binh khí dài, cũng không có nhịp tim mạnh mẽ của cao thủ võ học sa trường.
Thẩm Độc Hành chậm rãi kéo then sắt, mở hé cánh cửa gỗ.
Đứng ngoài màn mưa drizzle lạnh buốt là một người đàn ông trung niên, dáng người nhỏ thon, lưng hơi khòm, đội chiếc nón lá rách nát sũng nước. Gã mặc bộ đồ vải thô màu xám tro vá chằng vá đụp loang lổ bùn đất, hai tay ôm khư khư một chiếc plowshare bằng sắt bị gãy đôi, toàn thân run cầm cập vì lạnh.
"Thẩm... Thẩm lão bản... xin cứu giúp..." Người đàn ông lên tiếng bằng một giọng nói run rẩy, mang đậm chất giọng địa phương của nông dân vùng ngoại ô Nhạn Môn Trấn. Gã ngước gương mặt gầy gò, vàng vọt đầy vết bùn đất lên nhìn Thẩm Độc Hành bằng ánh mắt khẩn cầu khốn khổ. "Chiếc plowshare của nhà tôi bị gãy đôi khi đang cày ruộng đất đá ngoài rìa trấn... Mùa cấy sắp tới rồi, nếu không sửa gấp thì cả nhà tôi sẽ chết đói mất... Tôi có mang theo mấy đồng tiền đồng thô này, xin ông rủ lòng thương rèn lại giúp tôi..."
Người đàn ông run rẩy chìa bàn tay gầy guộc ra, bên trong lòng bàn tay là năm sáu đồng tiền đồng mòn vẹt, dính đầy bùn đất bẩn.
Thẩm Độc Hành nhìn chằm chằm vào người nông dân khốn khổ trước mặt. Ánh mắt sắt đá của gã thợ rèn què lướt qua chiếc plowshare gãy đôi, rồi dừng lại ở đôi bàn tay của gã khách lạ.
Đôi bàn tay ấy thô ráp, đầy vết chai sạn, trông rất giống tay của một nông dân làm lụng vất vả hằng ngày. Thế nhưng, bằng nhãn quan cực hạn của một cựu đao phủ từng tiếp xúc với hàng vạn loại người, Thẩm Độc Hành lập tức nhận ra một điểm bất thường chí mạng: vết chai sạn trên ngón trỏ và ngón cái của người này không phải do cầm cán cuốc hay plowshare rèn thô, mà là vết chai đặc trưng được hình thành từ việc cầm nắm và phóng những thanh đoản kiếm mỏng hoặc phi đao ám khí trong thời gian dài.
Hơn thế nữa, dù người nông dân này cố tình đi khập khiễng và run rẩy vì lạnh, nhưng bộ pháp di chuyển của gã khi bước qua bực cửa lò rèn lại cực kỳ uyển chuyển, trọng tâm cơ thể luôn giữ vững ở mức cân bằng tuyệt đối – một biểu hiện của cao thủ khinh công thuộc cảnh giới Trảm Phong sơ kỳ.
Kẻ này chính là Vô Diện – sát thủ dịch dung cực đỉnh của phân đà Ảnh Sát Các biên thùy, kẻ được Trương Hùng phái đến để thâm nhập lò rèn hòng xác nhận tung tích ba đứa trẻ họ Tạ.
Thẩm Độc Hành không hề để lộ một chút nghi ngờ nào trên gương mặt phẳng lặng như đá tảng của mình. Gã lầm lỳ đưa tay trái nhận lấy chiếc plowshare gãy đôi và mấy đồng tiền đồng thô, giọng nói khàn đặc lạnh lùng:
"Để lại đây. Chiều tối quay lại lấy."
"Ôi, đa tạ Thẩm lão bản! Đa tạ ông!" Vô Diện (trong lốt người nông dân) rối rít cúi đầu cảm ơn, nở một nụ cười hiền lành, chất phác đến tội nghiệp. "Tôi... tôi có thể đứng nhờ dưới mái hiên lò rèn của ông để tránh mưa một lát được không? Ngoài kia mưa lạnh quá, chân tôi lại đang đau nhức dữ dội do khớp vai mạn tính..."
Thẩm Độc Hành khẽ gật đầu, rồi lẳng lặng quay người bước vào gian lò trong để "rèn" chiếc plowshare, để mặc Vô Diện đứng ngoài sân lò rèn ẩm ướt.
Ngay khi bóng lưng khòm của Thẩm Độc Hành biến mất sau tấm màn vải thô ngăn cách, nụ cười chất phác trên gương mặt Vô Diện lập tức biến mất, thay vào đó là một ánh mắt sắc lạnh, xảo quyệt như rắn độc rình mồi.
Gã sát thủ dịch dung lướt nhẹ gót chân không tiếng động trên nền đất bùn, bắt đầu quan sát kỹ lưỡng mọi ngóc ngách của lò rèn Thẩm Độc Hành. Gã nhìn thấy đống sắt vụn sa trường được xếp gọn gàng góc sân, nhìn thấy bệ nung đang cháy đỏ rực tỏa hơi ấm, và đặc biệt... gã nhìn thấy ba dấu chân nhỏ bé, nông sâu khác nhau in trên vũng bùn lầy sát bực cửa dẫn vào gian buồng ngủ.
"Dấu chân của ba đứa trẻ... Một đứa khoảng mười bốn tuổi, một đứa mười một, và một đứa nhỏ hơn khoảng bảy tuổi..." Vô Diện thầm nghĩ, khóe môi gã khẽ nhếch lên một nụ cười tàn độc. "Trương Hùng đà chủ đoán không sai. Huyết mạch cuối cùng của Tạ gia quả nhiên đang ẩn náu tại lò rèn tồi tàn này. Gã thợ rèn què này chính là kẻ đã bảo vệ chúng suốt một năm qua."
Vô Diện không vội vàng ra tay vung kiếm giết người. Gã biết Thẩm Độc Hành là một cựu binh sa trường có kình lực đáng sợ, cú bẻ gãy tay Vương Đại Hổ lúc nãy là một minh chứng. Nếu trực tiếp đối đầu bằng vũ lực, gã có thể gặp rủi ro và làm động động đến toàn trấn. Cách tốt nhất, tàn nhẫn nhất là tiêu diệt chúng từ bên trong một cách vô hình.
Gã sát thủ dịch dung lén lút tiếp cận chiếc giếng nước sinh hoạt của gia đình nằm ở góc courtyard phía sau lò rèn. Chiếc giếng cổ cũ kỹ, rêu phong phủ đầy thành đá ẩm ướt, bên trên có chiếc ròng rọc bằng gỗ sồi kêu kẽo kẹt mỗi khi có gió thổi qua.
Vô Diện lén lút thọc bàn tay gầy guộc vào trong tay áo rộng, lôi ra một chiếc lọ sành nhỏ màu đen kịt. Bên trong chiếc lọ này chứa kịch độc cóc rừng – thứ độc chất vô sắc vô vị cực kỳ tàn bạo do Độc Thủ Cáp Mô chế chiết từ vạn loài cóc độc biên giới. Chỉ cần nhỏ ba giọt chất độc này xuống giếng nước, toàn bộ gia đình bốn người của Thẩm Độc Hành sẽ bị co giật, tê liệt hoàn toàn gân mạch và chết nghẹt trong vòng nửa canh giờ sau khi uống nước.
Vô Diện lén mở nút lọ sành, cúi khòm người xuống miệng giếng, chuẩn bị đổ chất độc vô hình xuống dòng nước sâu thẳm bên dưới.
"Gừ...ừ...ừ..."
Một tiếng gầm gừ nhỏ, khàn đục bất ngờ vang lên từ dưới gầm chiếc xe đẩy gỗ thô rách nát đặt sát vách giếng.
Vô Diện giật mình, bàn tay đang cầm lọ độc khựng lại giữa không trung. Gã từ từ quay đầu nhìn xuống.
Dưới gầm xe đẩy gỗ mục, một chú chó hoang lông vàng cụt đuôi, tai phải bị rách một góc đang nằm crouching sát đất. Đó chính là Tiểu Lục, chú chó hoang được Tạ Vũ thương tình cho ăn vụn bánh mì hằng ngày.
Đôi mắt vàng tinh anh của Tiểu Lục sáng lên trong bóng tối rình rập, dán chặt vào Vô Diện với một sự cảnh giác cao độ. Chú chó hoang nhạy cảm phát hiện ra mùi sắt rỉ của binh khí lạ giấu trong người gã khách và mùi tanh hôi nồng nặc của kịch độc cóc rừng bốc ra từ chiếc lọ sành nhỏ.
Tiểu Lục nhe nanh vuốt trắng nhọn, gầm gừ liên tục trong cổ họng, chuẩn bị nhảy xồ ra cắn xé kẻ xâm nhập mang sát ý.
"Con súc sinh phiền phức!" Vô Diện rủa thầm trong lòng. Gã lén nhặt một viên đá hộc sắc nhọn dưới đất bùn, vận khí kình Trảm Phong định ném nát sọ chú chó để bịt đầu mối.
Thế nhưng, thính giác nhạy bén cực hạn của Tiểu Lục đã giúp nó phát hiện ra sát ý bùng phát của gã sát thủ. Chú chó hoang lập tức nhảy xồ ra khỏi gầm xe đẩy, sủa vang dội một tiếng đanh thép phá tan bầu không khí tĩnh lặng của lò rèn.
"Gâu!"
"Cạch!"
Tiếng ròng rọc giếng nước kẽo kẹt đột ngột dừng lại.
Từ trong gian lò rèn phía sau, Thẩm Độc Hành bước ra ngoài courtyard lầy lội dưới màn mưa drizzle. Bước chân của gã thợ rèn què vẫn khập khiễng, nặng nề, nhưng bắp vai trái rộng lớn hơi khòm và bắp tay trái to khỏe đang cầm chiếc búa rèn sắt nặng hai mươi cân rải kình lực Chấn Kình Đả Thiết gõ nhẹ xuống đất bùn phát ra một tiếng nổ đục khàn.
Ánh mắt sắt đá, lạnh lùng như dao chém của Thẩm Độc Hành khóa chặt vào bóng lưng khòm của người nông dân đang đứng sát miệng giếng nước.
Vô Diện cực kỳ xảo quyệt. Ngay trong khoảnh khắc nghe thấy tiếng bước chân nặng nề của Thẩm Độc Hành, gã đã chớp nhoáng thu tay phải lại, giấu chiếc lọ sành kịch độc vào tay áo rộng, đồng thời dùng tay trái nắm lấy sợi dây thừng của chiếc gáo gỗ múc nước giếng, giả vờ như đang kéo nước lên để uống.
Gã sát thủ dịch dung từ từ quay người lại, tay cầm chiếc gáo gỗ múc đầy nước giếng, gương mặt vàng vọt co rúm vì lạnh nở một nụ cười hiền lành, chất phác đến tội nghiệp để đánh lừa gã thợ rèn què:
"A, Thẩm lão bản... Nước giếng của nhà ông mát quá... Tôi đứng ngoài hiên lạnh buốt, cổ họng khát khô nên tự tiện múc một gáo nước uống... Ông rủ lòng thương đừng trách phạt tôi nhé..."
Thẩm Độc Hành đứng im lặng dưới màn mưa drizzle lạnh lẽo, chiếc búa rèn sắt trong tay trái khẽ nâng lên nửa tấc. Ánh mắt gã nhìn chằm chằm vào nụ cười hiền lành của người nông dân trước mặt, rồi từ từ di chuyển xuống chiếc gáo gỗ dính đầy nước mưa bẩn bên giếng nước rêu phong.
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên!