Khúc Ca Nghĩa Trang
Mưa phùn đêm muộn giăng một tấm lưới nước lạnh lẽo lên những hàng bia mộ xám xịt của nghĩa trang Gò Dưa. Gió bấc từ phía sông Sài Gòn thốc về, mang theo hơi lạnh buốt xương và cái ẩm ướt rợn người của đất thịt hoang vu. Giữa bóng tối thâm u của khu mộ cổ dành riêng cho những nghệ sĩ cải lương nghèo quá cố, Nguyễn Gia Huy đứng cô độc như một bóng ma tàn khuyết.
Toàn thân anh ướt sũng. Nước mưa hòa lẫn với mùi hôi thối đặc trưng của dòng kênh Nhiêu Lộc vẫn còn bám vương trên vạt áo khoác bomber thêu họa tiết rồng phượng rách vai. Khớp gối trái của anh nhói đau dữ dội sau cuộc xô xát bạo lực với băng đảng siết nợ tại bệnh viện, nhưng cơn đau ấy chẳng thấm thía gì so với sự giày vò đang cào xé lồng ngực bị rạn sườn nhẹ. Cổ họng Huy nóng rực, dải băng gạc đỏ quấn chặt quanh cổ đã thấm đẫm những vệt máu tươi rỉ ra từ vết nứt huyết quản đang hoại tử nhẹ. Anh hoàn toàn mất giọng. Cơn khủng hoảng câm lặng tạm thời biến anh thành một kẻ tàn phế không lời giữa đất trời lạnh giá.
Giắt sau lưng quần, bọc giấy báo cũ sũng nước chứa hai nửa thanh kiếm gỗ đào bị gãy đôi – kỷ vật duy nhất mà người cha già Nguyễn Lâm Giang đẽo gọt cho anh năm mười tuổi – nặng trĩu như một khối chì căm hận. Trong lòng bàn tay trái run rẩy, Huy siết chặt chiếc hộp phấn hóa trang tuồng cổ gia truyền dính máu của Lê Mỹ Uyên để lại. Mùi thơm thảo mộc thanh khiết cuối cùng của cô đào phụ ấy dường như đang tan biến vào màn mưa lạnh, để lại anh một mình giữa vực thẳm của sự cô độc.
Huy quỳ sụp xuống trước ngôi mộ hoang loang lổ rêu phong của người mẹ quá cố Trần Thị Xuân. Tấm bia đá úa màu khắc tên bà nhạt nhòa dưới làn nước mưa. Mười năm trước, bà đã ra đi trong âm thầm, và giờ đây Huy mới biết sự thật kinh hoàng: bà tự sát để hiến tế sinh mạng cho sự thăng hoa của cha dưới lời nguyền của khế ước dòng họ. Nước mắt Huy trào ra, nóng hổi và mặn chát, hòa cùng nước mưa lạnh buốt lăn dài trên đôi má hốc hác.
Anh run rẩy đặt hộp phấn trang điểm dính máu lên bệ đá bia mộ. Bàn tay rách da rớm máu sâu của anh run rẩy lôi cây Đàn kìm mun chỉ đỏ Nguyễn gia ra khỏi túi vải thô ướt sũng. Những sợi chỉ đỏ quấn quanh thân đàn mun đen bóng lấp lánh một thứ ánh sáng mờ ảo, lạnh lẽo dưới màn mưa. Huy ôm cây đàn vào lòng, mười đầu ngón tay sưng tấy đặt lên dây tơ cứng ngắc. Anh muốn hát. Anh muốn gào thét trước mộ mẹ để trút bỏ nỗi dằn vặt tột cùng này. Anh muốn hỏi bà tại sao lại chấp nhận cái chết tàn khốc ấy. Nhưng cổ họng anh chỉ phát ra những tiếng rít gió khò khè, nghẹn ngào vị máu.
*Tưng...*
Huy gảy mạnh một nốt đàn. Dây tơ quá cứng găm sâu vào ngón tay đang rách da, máu tươi trào ra, nhuốm đỏ phím đàn mun đen. Tiếng đàn cất lên đứt quãng, thô ráp và chói tai, vang vọng giữa nghĩa trang hoang vắng rồi lịm tắt trong tiếng gió rít qua những tán cây cổ thụ u ám. Tiếng đàn của anh rách nát, thiếu đi linh hồn vì lồng ngực đau nhói không thể lấy hơi đan điền.
“Tiếng đàn rách nát, chỉ có oán khí tầm thường của một kẻ thất phu, không có linh hồn của kẻ gánh nghiệp.”
Một giọng nói khàn đặc, thâm trầm đột ngột vang lên từ phía sau bóng tối của một cây bàng cổ thụ gần đó. Huy giật mình, tay vô thức siết chặt thân đàn kìm mun, đôi mắt sắc lẹm của kép chính lập tức hướng về phía âm thanh phát ra.
Từ trong màn sương mù ẩm ướt, một bóng người gầy gò lầm lũi bước ra. Đó là Thầy đờn Tư Lương. Ông mặc bộ quần áo bà ba màu nâu sòng bạc màu, chân đi đôi dép cao su sứt mẻ, tay cầm chiếc gậy tre gõ nhịp xuống nền đất bùn nhão nhoét. Đôi mắt ông mờ đục, mù lòa vĩnh viễn nhưng gương mặt hướng thẳng về phía Huy với một sự nhạy bén đến đáng sợ. Giắt bên hông ông là cây đàn kìm bằng gỗ ngô đồng cổ không có phím lõm.
“Cậu Huy đó phải không?” Tư Lương dừng bước, dùng gậy tre gõ mạnh hai tiếng xuống tấm bia mộ của bà Trần Thị Xuân. “Mười năm rồi tui mới lại nghe thấy tiếng đàn kìm mun của dòng họ Nguyễn gảy trước ngôi mộ này. Nhưng tiếng đàn hôm nay sao thảm hại quá. Kép chính của gánh Hưng Cổ mà chỉ biết dùng sức mạnh thể xác thô bển để ép dây đàn lên tiếng sao?”
Huy muốn nói, nhưng cổ họng anh co thắt dữ dội, dải gạc đỏ trên cổ thấm thêm một vệt máu tươi rực đỏ. Anh chỉ có thể thở dốc, lồng ngực phập phồng đau đớn.
“Mày câm rồi đúng không?” Tư Lương nhếch mép cười nhạt, đôi mắt mù lòa không chút cảm xúc. “Tốt. Câm mới tốt. Kẻ ca sĩ thường dùng cái miệng để lừa dối người nghe, chỉ khi câm lặng, mày mới học được cách dùng tim để lắng nghe tiếng tơ. Mày có biết tại sao mỗi lần mày hát thăng hoa tại show sống còn, cha mày ở bệnh viện lại bị rút cạn sinh khí không?”
Huy trừng mắt nhìn thầy đờn mù. Anh lết đầu gối lại gần, tay bấu chặt vào vạt áo sờn cũ của Tư Lương, cố gắng phát ra tiếng khò khè cầu xin câu trả lời.
“Đó là lời nguyền trong khúc Phụng Hoàng Sanh,” Tư Lương lạnh lùng gạt tay Huy ra. “Khúc ca cổ của dòng họ mày thực chất là một nghi thức gọi hồn tâm linh. Khi mày hát bằng hơi vạn cổ thông thường, mày chỉ đang dùng cơ hoành thể xác. Nhưng khi mày gảy cây đàn kìm mun chỉ đỏ này, tần số âm thanh của nó sẽ kích hoạt khế ước máu. Nó chuyển hóa sinh lực của người thân cận nhất thành năng lượng âm thanh để tiếng hát mày đạt đến ma lực thôi miên đám đông. Mày càng cố dùng sức để hát, cha mày càng nhanh chết.”
Huy quỳ sụp xuống bùn đất, hai tay ôm đầu đau đớn. Nỗi dằn vặt tột cùng đè nặng lên vai anh. Anh đang giết cha mình. Mỗi tràng vỗ tay, mỗi cúp tuần lấp lánh ánh neon của show sống còn thực chất được đổi bằng những bọc máu đen mà cha anh ho ra trên giường bệnh Quận 3.
“Nhưng đêm bán kết nhánh thua sắp tới rồi,” Tư Lương cúi người, dùng bàn tay gân guốc, chai sạn nắm lấy cổ tay Huy. “Mày không thể dừng lại vì bản hợp đồng độc quyền đã ký, và rạp Hưng Cổ sắp bị dỡ bỏ. Nếu mày muốn hát mà không làm đứt mạch máu cổ họng, mày phải học cách kết nối tâm thức với dây đàn. Hãy quên cái cổ họng rách nát của mày đi. Hãy dùng Huyết cảm dây đàn kìm.”
Tư Lương kéo Huy ngồi xếp bằng đối diện với mình dưới cơn mưa phùn lạnh giá. Ông đặt bàn tay gầy gò của Huy lên thớ gỗ mun đen bóng của cây đàn kìm Nguyễn gia.
“Nhắm mắt lại,” Tư Lương ra lệnh, giọng nói trầm hùng át cả tiếng gió bấc. “Bịt tai mày lại. Đừng nghe tiếng mưa rơi, đừng nghe tiếng gió bão. Hãy dùng mười đầu ngón tay dính máu của mày để cảm nhận độ rung nhẹ nhất của thớ gỗ mun này. Hãy tìm kiếm nhịp đập sinh mệnh của cha mày đang truyền dẫn qua sợi chỉ đỏ.”
Huy nhắm mắt lại. Anh áp chặt cây đàn kìm vào lồng ngực đang rạn sườn nhói buốt. Ban đầu, anh chỉ cảm nhận được cái lạnh buốt của mưa bão và cơn đau rát bỏng ở cổ họng. Anh cố gắng gảy đàn theo cách thông thường, nhưng dây tơ quá cứng làm rách thêm ngón tay rớm máu sâu, tiếng đàn phát ra vẫn khàn đục, nghẹn ngào.
“Ngu xuẩn!” Tư Lương gõ mạnh gậy tre vào bả vai bầm tím của Huy. “Mày vẫn đang dùng lực thể xác! Hãy thả lỏng cơ vai. Hãy nghĩ đến nỗi đau mất đi Mỹ Uyên, nghĩ đến người mẹ nằm dưới mộ lạnh, nghĩ đến hơi thở yếu ớt của cha mày tại viện Quận 3. Hãy để oán hận và tình yêu thương cực đoan dồn vào đầu ngón tay, chứ không phải lực cánh tay!”
Huy cắn chặt môi đến bật máu. Anh thả lỏng cơ vai đang đau nhức, nhắm mắt hoàn toàn, dồn toàn bộ tâm thức vào dải băng gạc đỏ đang phát sáng đỏ mờ ảo trên cổ họng mình. Anh bắt đầu bịt tai lại, chỉ dùng các đầu ngón tay rớm máu chạm nhẹ vào hai sợi dây tơ quấn chỉ đỏ phong thủy.
Trong bóng tối câm lặng của tâm thức, một phép màu quỷ dị bắt đầu diễn ra. Huy không còn nghe thấy tiếng bão giông gầm rú bên ngoài. Qua độ rung giật nhẹ của thớ gỗ mun đàn kìm, anh đột ngột cảm nhận được một nhịp đập vô cùng yếu ớt, đứt quãng từ khoảng cách hàng chục cây số.
*Thịch... thịch... thịch...*
Đó là nhịp tim của cha anh, soạn giả Nguyễn Lâm Giang, đang đập loạn xạ dưới máy thở y tế tại phòng hồi sức cấp cứu bệnh viện Quận 3. Nhịp tim ấy truyền dẫn qua sợi chỉ đỏ trên đàn kìm, rung động trực tiếp vào màng nhĩ tâm linh của Huy. Đây chính là cảnh giới Huyết cảm dây đàn kìm mà chú Phong từng nhắc tới.
“Thấy rồi đúng không?” Giọng nói của Tư Lương vang lên trong đầu Huy như một tiếng chuông đồng cổ thanh lọc tâm hồn. “Bây giờ, hãy dùng chính tần số nhịp tim đó để điều khiển làn hơi đan điền của mày. Đừng phát ra âm thanh từ dây thanh quản đã rách. Hãy dùng sự rung động của không khí trong vòm họng mềm để nhả chữ. Ca đi!”
Gia Huy hít một hơi thật sâu bằng bụng, dồn toàn bộ dưỡng khí xuống vùng đan điền theo kỹ thuật lấy hơi cơ hoành sâu. Anh không cố mở miệng phát âm. Anh giữ vòm họng mềm mở rộng tối đa, dùng độ rung của lưỡi và không khí nóng rực trong cổ họng để thầm thì nhả chữ theo điệu oán khúc Phụng Hoàng Sanh.
*Ư... ư... hự...*
Một làn sóng âm tần mờ ảo, không phải tiếng hát thông thường, thoát ra qua kẽ răng của Huy. Âm thanh ấy trầm buồn, réo rắt u uất tột cùng, mang theo toàn bộ oán hận của bi kịch gia tộc và nỗi đau ly biệt Mỹ Uyên. Tiếng hát không lời ấy phát ra một tần số đặc biệt, đạt đến cảnh giới Cộng âm tâm linh (Acoustic Resonance), tạo nên sự rung động vật lý mờ ảo trong không gian nghĩa trang hoang vắng.
Những hạt mưa phùn đang rơi xuống bỗng chốc bị đẩy ngược ra xa xung quanh thân đàn kìm mun như một lá chắn vô hình. Tiếng hát thầm thì của Huy vang vọng giữa những hàng bia mộ lạnh lẽo, réo rắt nức nở như tiếng khóc của vong hồn người mẹ quá cố Trần Thị Xuân từ dưới lòng đất sâu.
Ngay lúc đó, một dị biến kinh hoàng xảy ra.
Mười đầu ngón tay của Huy bấm chặt trên dây đàn bỗng chốc nóng rực như bị nung trong lò lửa. Những sợi chỉ đỏ quấn quanh thân đàn kìm mun Nguyễn gia bắt đầu phát sáng đỏ rực rợn người dưới màn mưa lạnh. Luồng ánh sáng đỏ mờ ảo ấy nhấp nháy liên tục, đập theo đúng tần số yếu ớt, đứt quãng của nhịp tim người cha già Lâm Giang đang hôn mê sâu tại bệnh viện Quận 3.
Mỗi nốt nhạc luyến láy của Huy cất lên trong câm lặng, luồng sáng đỏ trên thân đàn lại rực sáng hơn, hút lấy những giọt máu tươi rỉ ra từ ngón tay anh. Huy cảm nhận được một cơn đau thắt tim tột độ, sinh khí của cha anh đang bị rút cạn nhanh hơn bao giờ hết thông qua mối liên kết huyết khế quỷ dị này để khôi phục giọng hát tạm thời cho anh.
Tiếng hát câm lặng của Huy vang vọng giữa nghĩa trang hoang vắng, khiến những sợi chỉ đỏ trên thân đàn kìm mun phát sáng đỏ rực rợn người, báo hiệu khế ước máu đã dấn sâu thêm một bước tàn khốc.
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên!