Độc Khí Giếng Cổ
Gió bấc rít liên hồi qua những khe đá nứt nẻ của Nhạn Môn Quan, mang theo cái lạnh cắt da cắt thịt của mùa đông biên ải. Đêm nay, sương mù dày đặc bao phủ khắp thung lũng Nhạn Môn, che khuất cả những lán trại tị nạn lụp xụp của dân nghèo. Bóng tối đặc quánh như mực loang, chỉ có tiếng gió gầm rú dội vào vách núi tạo nên những âm thanh ghê rợn giống như tiếng quỷ khóc thần than.
Từ phía con đường mòn dẫn về dinh tri phủ, một bóng người cao lớn hơi gù lầm lũi bước đi trong sương lạnh. Trương Thiết Thương ghì chặt thanh độc thương sắt rỉ nặng mười hai cân dưới nách trái, bước chân đi theo hình chữ bát của Bộ pháp gánh nước Nhạn Môn để giữ thăng bằng tuyệt đối trên những phiến đá sỏi trơn trượt. Cánh tay sắt giả cơ quan bên vai trái của anh đã bị hỏng hoàn toàn, các khớp bánh răng đồng rỉ kẹt cứng phát ra tiếng cọc cạch khô khốc mỗi khi anh chuyển động vai.
Vết mổ hoại tử cũ ở bả vai phải bị cụt sát tận xương đang co thắt kịch liệt sau cuộc đọ sức dã chiến dưới hầm ngầm tri phủ Vương Cao. Thứ dịch lỏng màu đen sẫm lẫn máu tươi rỉ ra đầm đìa, thấm đẫm dải băng vải thô xám vá chằng vá đụp, mang lại cảm giác bỏng rát như có hàng vạn con kiến độc sa mạc đang điên cuồng gặm nhấm vào tận xương tủy. Anh cắn chặt răng, cơ hàm bạnh ra nổi lên những đường gân cứng ngắc, ép cơn đau xuống dưới ngưỡng chịu đựng của lý trí. Trong đai da của cánh tay sắt giả bên trái, tờ mật ước hoãn binh vây quét thung lũng Nhạn Môn trong vòng một tháng đóng dấu ấn tri phủ đỏ rực mới tinh đang được giắt chặt bên cạnh cuốn sổ sách lậu buôn vũ khí phản quốc. Quân bài ly gián đã thành công, nhưng anh biết rõ, Thiết Sa Bang bị dồn vào đường cùng sẽ điên cuồng tự tay hành động tàn độc hơn.
Cách thung lũng Nhạn Môn không xa, bên cạnh phế tích Nhạn Môn Quán hoang tàn đang bốc cháy âm ỉ từ những trận chiến trước, giếng nước ngọt cổ Nhạn Môn nằm im lìm dưới bóng một cây thông đá già nua. Đây là mạch nước ngầm ngọt mát duy nhất không bị nhiễm mặn trong bán kính mười dặm quanh biên trấn hoang vu này, là dòng sữa mẹ nuôi sống hàng trăm hộ dân tị nạn và phu mỏ nghèo khổ đang bị quan phủ phong tỏa kinh tế.
"Xào xạc..."
Một bóng đen gù lùn tịt, mặc áo choàng chàm rách rưới bốc mùi hôi thối của hóa chất sa mạc lén lút tiếp cận miệng giếng cổ. Đó chính là Ô Sa Lão Độc – dược sĩ tà tị của Thiết Sa Bang. Gương mặt của lão xanh xao hoại tử, sần sùi những vết sẹo bỏng do độc quặng sa mạc lâu năm ăn mòn. Đôi bàn tay đen kịt, móng tay dài nhọn hoắt của lão đang run rẩy ôm chặt một hũ đất nung bịt kín bằng nút da dê.
Lão độc nhìn quanh sương mù dày đặc, đôi mắt ti hí bừng lên sát khí điên cuồng của một kẻ tâm thần tàn bạo. Lão cười khẽ, tiếng cười khàn khàn như tiếng quạ kêu giữa nghĩa địa hoang dã:
- Khặc khặc... Vương Cao hèn nhát dám phản bội bang chủ để tự bảo vệ mình sao? Lũ dân nghèo thung lũng tưởng có nước ngọt để sống qua mùa đông này sao? Hôm nay, Ô Sa Lão Độc ta sẽ biến giếng nước này thành mồ chôn tập thể của các ngươi!
Lão lết cái lưng gù sát đất, chậm rãi tháo nút da dê của hũ đất nung. Bên trong hũ chứa đầy bột độc sa khoáng mỏ màu đỏ thẫm dẻo dai – thứ độc chất cực tàn độc được lão chiết xuất từ vỉa quặng sắt rỉ Nhạn Môn ẩm ướt sâu trong lòng đất mỏ lậu. Chất bột đỏ thẫm này có nồng độ axit và tạp chất muối độc sa mạc cực cao, khi tiếp xúc với nước ngọt sẽ nhanh chóng hòa tan, tạo ra độc tính gây nhiễm trùng máu, thối rữa da thịt và hoại tử lục phủ ngũ tạng ngay lập tức cho bất kỳ ai uống phải.
Ô Sa Lão Độc nghiêng hũ đất, đổ toàn bộ bột độc đỏ thẫm xuống lòng mạch nước ngầm giếng cổ. Dưới ánh sáng mờ nhạt của sương đêm, dòng nước ngọt mát bỗng sủi bọt khí xanh lục độc hại bốc lên mùi khét lẹt nồng nặc giống như mùi tóc cháy trộn lẫn mùi sắt rỉ ẩm mốc. Lão độc đậy nắp gỗ giếng cổ lại, lùi bước lủi nhanh vào sương mù dày đặc như một con chuột chũi hoang mạc, khấp khởi mừng thầm chờ đợi thảm cảnh thối rữa hàng loạt của thung lũng vào sáng ngày mai.
Lúc này, thiếu niên câm điếc A Sinh đang lầm lụi cầm chổi tre quét dọn những mảnh gỗ thông cháy dở bên rìa phế tích quán nước Nhạn Môn. Cậu bé mười bốn tuổi gầy nhom, mặc chiếc áo vải thô xám bám đầy bụi than đen bẩn thỉu. A Sinh không nghe thấy tiếng gió bão gầm rú, cũng không nói được một lời, nhưng bù lại, tạo hóa đã ban tặng cho cậu một khứu giác nhạy bén vô song thực tế, có thể ngửi thấy mùi cát ẩm và hướng gió sa mạc từ khoảng cách dặm khơi.
Khi gió bấc thổi mạnh quét qua miệng giếng cổ, một luồng khí lạnh mang theo mùi lạ cực nhỏ xộc thẳng vào mũi A Sinh. Bước chân quét chổi của thiếu niên đột ngột dừng lại. Cậu bé hít hà thật mạnh, đôi mắt to tròn lanh lợi bỗng co rụt lại vì kinh hoàng.
Mùi khét lẹt độc sa khoáng mỏ sa mạc!
Là một đứa trẻ lớn lên bên mỏ đá lậu Nhạn Môn, A Sinh thuộc nằm lòng mùi độc quặng chết chóc này. Đó là mùi của những phu mỏ bị thối phổi hoại tử lồng ngực mà cậu thường thấy xác họ bị ném bỏ ngoài Hồ Muối Chết. Mùi độc quặng đỏ thẫm đang bốc lên nồng nặc từ phía giếng nước ngọt cổ Nhạn Môn.
A Sinh vứt phăng chiếc chổi tre xuống đất cát, dốc sức chạy bộ điên cuồng về phía miệng giếng. Cậu bé dùng đôi bàn tay gầy guốc nứt nẻ vì sương muối ra sức đẩy nắp gỗ giếng cổ ra. Một luồng sương mù mỏng màu xanh lục nhạt bốc lên khét lẹt rợn người. Cậu bé nhìn xuống lòng giếng, bọt khí độc xanh lục vẫn đang sủi tăm liên tục trên mặt nước ngọt đỏ thẫm.
- Ú... ú... ớ! – A Sinh gào khóc thảm thiết, âm thanh câm lặng nghẹn ngào vang lên trong đêm tối sương mù. Cậu bé cầm lấy chiếc gậy tre lớn gõ mạnh liên tiếp vào thành giếng đá tảng kêu *boong... boong...* báo động khẩn cấp.
Tiếng gõ đá dồn dập xé toạc đêm tối tĩnh lặng của thung lũng Nhạn Môn. Từ trong các lán trại tị nạn lụp xụp, ba dân binh tuần tra đang đi tuần đêm – dẫn đầu là Đại Tráng lực lưỡng mang theo chiếc khiên gỗ sồi đai sắt rỉ và hai phu mỏ khỏe mạnh – vội vã vác giáo tre chạy tới hiện trường:
- Có chuyện gì thế? A Sinh! Sao em lại gõ giếng báo động giữa đêm bão thế này? – Đại Tráng lớn tiếng hỏi, bắp tay cuồn cuộn gồng lên dưới manh áo sát nách thô nâu.
A Sinh hoảng loạn khóc lóc, hai tay quơ quào điên cuồng, cố sức kéo giật vạt áo của Đại Tráng tránh xa miệng giếng. Cậu bé ú ớ chỉ tay xuống lòng giếng độc. Nhưng một dân binh tuần tra gầy gò đi cùng do quá khát nước sau ca tuần đêm mệt mỏi, lại thấy giếng nước vẫn trong vắt đỏ nhạt dưới ánh đuốc mờ, liền khinh suất gạt tay A Sinh ra:
- Thằng bé này bị điên rồi sao? Trời lạnh thế này, cho ta xin gáo nước ngọt ngọt sạch để giữ ấm cổ họng đã...
Tên dân binh thả gáo gỗ xuống múc một gáo nước ngọt sủi bọt, định ngửa cổ uống sạch. A Sinh hét lên một tiếng ú ớ đầy dũng cảm, lao thẳng người tới đập văng chiếc gáo gỗ ra khỏi tay tên dân binh. Nước độc sủi bọt bắn tung tóe, văng trực tiếp lên đôi bàn chân trần chai sạn bám đầy bụi đất của ba dân binh tuần tra đang đứng sát thành giếng.
- Á! – Một tiếng thét đau đớn kịch liệt đồng loạt vang lên.
Ngay khi nước độc quặng sắt rỉ tiếp xúc với da thịt hở, vết loét ăn mòn axit cực mạnh lập tức xảy ra dã tàn tạ. Làn da chân trần của ba dân binh sủi bọt trắng xóa bốc khói khét lẹt, thịt da nhanh chóng chuyển sang màu đen sẫm hoại tử loét da rỉ máu mủ loãng. Cơn đau buốt nhói rát bỏng thấu xương tủy khiến ba gã lực lưỡng ngã quỵ xuống đất cát, ôm chặt lấy bàn chân đang rữa ra đau đớn co giật.
- Độc... Nước giếng có độc quặng mỏ! Mau báo cho Trần đại phu! – Đại Tráng hét lên trong đau đớn, bắp chân gân guốc co rút kịch liệt dính nước độc.
Tiếng ồn ào gào khóc báo động nhanh chóng kinh động đến toàn bộ thung lũng Nhạn Môn. Trương Thiết Thương mang theo thanh độc thương sắt rỉ vội vã lướt tới từ hầm ngầm, đi sườn đồi dốc đá sỏi không tiếng động nhờ bộ pháp thăng bằng dẻo dai. Nhìn thấy vết loét hoại tử đen sẫm sủi bọt trắng trên chân của ba dân binh tuần tra và hũ bột quặng rớt lại bên thành giếng, đôi mắt xám tro của cựu binh già bừng lên nộ hỏa thâm sâu sát khí chiến trường.
- A Sinh cứu mạng dân làng rồi... Giếng cổ đã bị đầu độc quặng mỏ sa mạc. – Trương Thiết Thương lầm lì nhìn vết nước độc sủi bọt xanh lục, tay trái nắm chặt cán thương sắt rỉ rít nhẹ.
Y sĩ Trần đại phu khẩn cấp xách hòm thuốc da dê chạy tới hiện trường. Lão y sĩ gầy gò, râu dài bạc trắng nồng nặc mùi ngải cứu sấy khô, gương mặt hiền từ giờ đây vô cùng nghiêm nghị trước thảm cảnh dã chiến. Lão quỳ một gối xuống đất cát, kiểm tra vết thương hoại tử loét chân đang lan rộng của Đại Tráng, châm bạc thử nước độc lập tức sủi bọt đen xịt độc tính cực cao cực hạn.
- Độc sa khoáng mỏ của Ô Sa Lão Độc! Thứ độc axit quặng sắt rỉ này nếu không giải trừ kịp thời trong vòng nửa canh giờ, chất độc sẽ ăn sâu vào xương tủy gây hoại tử máu hoại tử chân, buộc phải chặt bỏ chân mới giữ được mạng sống! – Trần đại phu nghiêm giọng cảnh báo, mồ hôi hột rịn ra trên trán lão nho sĩ già.
- Trần đại phu... cứu chúng tôi... đau quá... – Ba dân binh tuần tra rên rỉ thảm thiết, toàn thân run rẩy co giật do cơn sốt độc bắt đầu tàn phá thể xác.
Trần đại phu không vội vã hoảng loạn. Lão lập tức mở hòm thuốc, lôi ra một túi vải thô chứa đầy rễ cây thông đá tươi mọc trên vách núi hiểm yếu Nhạn Tử – loại thảo dược có tính kiềm cao cực mạnh dẻo dai mọc cheo leo đón gió bão sa mạc. Lão áp dụng "Giải độc quặng sắt rỉ pháp" – y thuật dã chiến bảo mệnh cốt lõi mà lão đã đúc kết suốt ba mươi năm điều trị cho phu mỏ Nhạn Môn.
- A Ngưu! Giúp ta dùng chày đá giã nát rễ thông đá này thật nhanh! Đại Tráng, ngậm chặt thanh gỗ sồi này chịu đau! – Trần đại phu ra lệnh lớn giọng chỉ huy dứt khoát.
A Ngưu nhanh nhẹn quỳ xuống bãi đá sỏi, dùng chày đá giã nát rễ thông đá tươi trộn với một chút nước muối nhạt Hồ Muối Chết để tăng tính sát trùng kiềm hóa. Hỗn hợp thảo dược giã nát màu xanh nhạt bốc lên mùi ngải cứu hăng hắc dã chiến.
Trần đại phu dùng dao mổ dã chiến nung đỏ trên lửa đuốc, dứt khoát khoét bỏ những mảng da thịt hoại tử đen sẫm đang thối rữa rỉ máu mủ trên chân ba dân binh tuần tra. Đặc tả quá trình khoét thịt tàn khốc: tiếng dao mổ rít xèo xèo trên da thịt cháy sém bốc khói khét lẹt, máu đen loãng phun trào đầm đìa ra đất cát sỏi núi. Đại Tráng và hai phu mỏ nghiến chặt răng vào thanh gỗ sồi đến mức rớm máu tươi, bắp thịt u vai nổi gân xanh cứng ngắc chịu đựng đau đớn cực hạn thể xác.
Sau khi khoét sạch thịt thối hoại tử, Trần đại phu đắp trực tiếp hỗn hợp thảo dược thông đá giã nát lên vết thương hở đang rỉ máu đỏ tươi.
"Xèo xèo... xèo xèo..."
Một phản ứng hóa học kiềm hóa axit quặng mỏ sa mạc tàn độc diễn ra ngay lập tức trên da thịt. Vết thương sủi bọt trắng xóa dồn dập như bọt xà phòng nung nóng, hút sạch những mủ độc quặng sắt rỉ màu đen sẫm ra ngoài vải băng trắng dệt bôi thuốc giảm đau. Làn da chân sưng tấy đỏ đen hoại tử của Đại Tráng dần bớt sưng, máu đen loãng ngừng rỉ, nhường chỗ cho dòng máu đỏ tươi hồng hào chảy ra ngoài bình thường trở lại.
- Khống chế được độc tính rồi... May mắn có rễ thông đá trung hòa kịp thời axit quặng mỏ. Nhưng chân của ba người họ cần nghỉ ngơi tĩnh dưỡng ít nhất một tháng không được di chuyển nặng gánh gác chiến lũy. – Trần đại phu thở phào nhẹ nhõm, lau mồ hôi trán bám đầy bụi cát sa mạc.
Dân làng thung lũng Nhạn Môn đứng bao quanh chứng kiến cảnh cứu chữa dã chiến tàn khốc đều đồng loạt quỳ lạy cảm tạ trời đất và dũng khí của thiếu niên A Sinh. A Sinh nhút nhát núp sau lưng Trương Thiết Thương, hai tay vẫn còn run rẩy ôm chặt chiếc bát đất nung cũ dùng để thử nước ngọt ngọt sạch.
Trương Thiết Thương đứng lặng im lìm bên thành giếng cổ Nhạn Môn dính bọt độc xanh lục hoại tử. Gương mặt phong trần đanh lại như đá tảng sườn núi dốc đứng Nhạn Môn Quan. Anh nhìn ba dân binh tuần tra bị thương phế sức chiến đấu tạm thời, nhìn nguồn nước ngọt ngọt sạch duy nhất của thung lũng bị ô nhiễm phong tỏa niêm phong tạm thời cách ly không thể gánh nước sử dụng trong vòng ba ngày tới.
Anh hiểu rõ bản chất tàn độc của Ô Sa Lão Độc và dã tâm điên cuồng của bang chủ Thiết Sa Bang Nhậm Thiên Hành. Lệnh hoãn phát binh vây quét của tri phủ Vương Cao chỉ có hiệu lực với lính tuần phòng triều đình địa phương, còn Thiết Sa Bang bị dồn vào đường cùng sẽ liên tục sử dụng các thủ đoạn đầu độc tàn tạ, phóng hỏa phá hoại để triệt hạ nguồn sống thung lũng trước mùa đông lạnh giá.
Nếu Ô Sa Lão Độc còn sống, nếu xưởng chế độc lậu mỏ đá rỉ sét Nhạn Môn của bang hội còn hoạt động đêm ngày đúc vũ khí tẩm độc sát hại dân lành, thung lũng Nhạn Môn sẽ không bao giờ có được nước ngọt sạch an toàn hay bình yên thực tế sinh tồn.
Trương Thiết Thương chậm rãi cúi xuống chuồng ngựa rách nát, siết chặt tay trái nắm lấy thanh độc thương sắt rỉ sét nặng mười hai cân chúc xuống đất sỏi. Anh nhìn thiếu niên A Ngưu đang đứng nắm chặt nửa đòn gánh gãy kỷ vật của cha Lão Nhị, ánh mắt anh bừng lên sát khí chiến trường lạnh lùng cương nghị tuyệt đối:
- Chúng ta không thể phòng thủ thụ động chờ chết được nữa. Đêm nay, ta sẽ dẫn đầu đột kích tiêu diệt sào huyệt mỏ đá rỉ sét Nhạn Môn, nhổ cỏ tận gốc Ô Sa Lão Độc để giành lại nguồn sống vẹn toàn cho thung lũng!
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên!