Chiếc Hòm Dưới Căn Hầm
Cơn bão rạng sáng ngày thứ Bảy trút lượng nước khổng lồ xuống những mái ngói rêu phong của phố cổ Hà Nội. Tiếng mưa gầm rú trên những khoảng sân trong, tạt sầm sập vào những bức tường sơn vàng ố đã bong tróc từng mảng lớn của ngõ Hàng Bạc. Kim đồng hồ chỉ đúng mười hai giờ rưỡi đêm. Trong ánh sáng lờ mờ của chiếc đèn đường vỉa hè bị màn mưa che khuất, ngõ Hàng Bạc sâu hun hút như một đường hầm tối tăm, ẩm ướt và chật hẹp, chỉ vừa đủ cho hai chiếc xe máy tránh nhau.
Vũ Phương Nam khẽ kéo sụp chiếc mũ lưỡi trai sẫm màu để che đi lớp băng gạc trắng đang quấn quanh thái dương trái. Vết rách sâu do cú nện gậy sắt của Nguyễn Văn Hắc hồi chiều vẫn giật nhói lên theo từng nhịp mạch đập, gửi những luồng đau buốt dọc lên đỉnh đầu. Mỗi bước đi trên nền gạch bát tràng trơn trượt khiến lồng ngực anh co thắt dữ dội; chấn thương dẻ sườn nghiêm trọng bên mạng sườn trái như một chiếc kẹp sắt siết chặt lấy hơi thở của gã trai hai mươi tám tuổi. Nhưng hai bàn tay anh vẫn gồng lên, ôm chặt lấy chiếc cặp da cũ sờn của người cha quá cố Vũ Hoài Nam trước ngực. Góc chiếc cặp bị rách đã được Luật sư Lê Gia Huy dùng kim chỉ khâu bao tài liệu khâu lại bằng những đường chỉ dù thô kệch, dính vệt máu khô sẫm màu.
“Đằng sau ngõ thông ra lối Hàng Bè có hai thằng đàn em của Bảy Sẹo đang đứng trú mưa dưới mái hiên tiệm tạp hóa,” Trần Đình Trọng tắt máy chiếc Wave Alpha cũ, khẽ thì thầm bên tai Nam. Nước mưa chảy ròng ròng trên gương mặt sạm đen vì nắng gió của gã xe ôm phố cổ. “Tụi nó mặc áo mưa cánh dơi màu xanh, mắt liên tục đảo về phía cổng chính số 22. Lối ngõ sau nhà cụ Đàn thì thoáng hơn, nhưng cửa gỗ đã bị khóa xích từ bên ngoài.”
“Để tôi,” Phạm Văn Út khẽ bước lên. Người thợ sửa khóa lành nghề nổi tiếng nhất phố cổ lách người qua vũng nước đọng. Bàn tay thô to với các ngón tay ám đen dầu mỡ của ông khẽ chạm vào sợi xích sắt rỉ sét đang khóa chặt cánh cửa gỗ lim cổ kính phía sau nhà cụ Đàn. Ông Út đeo chiếc kính lão trễ xuống mũi, nheo mắt nhìn dưới ánh sáng yếu ớt của chiếc đèn pin bọc màng bọc thực phẩm chống nước mà Huy đang cầm.
“Khóa đồng Pháp cổ đời 1930,” ông Út lầm bầm, giọng nói khàn khàn đặc trưng của người cả đời ngồi vỉa hè. “Loại này có ba chốt phụ chống cắt. Nếu thằng nào ngu dùng búa đập, chốt an toàn bên trong sẽ tự động nhảy và kẹt vĩnh viễn. Muốn mở êm thì phải dùng tay nghề gia truyền.”
Nam đứng tựa lưng vào bức tường gạch vồ ẩm mốc, cố nén một tiếng ho khan để không đánh động bọn giang hồ ngoài ngõ. Anh nhìn Huy: “Anh Huy, anh canh giờ giúp tôi. Chúng ta chỉ có tối đa mười lăm phút trước khi bọn đàn em Bảy Sẹo đi tuần tra vòng quanh ngõ sau.”
Huy gật đầu, khuôn mặt góc cạnh sắc sảo đanh lại đầy lo âu. Anh khẽ vuốt tập hồ sơ biên bản hiện trường dính vệt sơn đỏ thu thập từ nhà Nam đang cất kỹ trong cặp tài liệu: “Nam, cậu phải cẩn thận. Căn hầm dưới nhà cụ Đàn đã bị bỏ hoang hơn nửa thế kỷ, kết cấu móng đá thời Pháp có thể đã suy yếu sau những đợt đóng cọc thử tải của công trường Vạn Xuân bên cạnh. Nếu có rung chấn lớn, căn hầm rất dễ bị sập.”
“Tôi biết,” Nam khẽ nói, ánh mắt anh rực sáng một ý chí thép qua cặp kính cận gọng mảnh. “Nhưng bằng khoán điền thổ gốc thời Pháp thuộc nằm dưới đó là thứ vũ khí pháp lý di sản duy nhất có thể vô hiệu hóa quyết định cưỡng chế của ABBank. Chúng ta không thể lùi bước.”
Tiếng lách cách thanh mảnh của thanh thép nhỏ vang lên phá vỡ tiếng mưa rơi xối xả. Ông Út đã lôi từ trong bao da sờn cũ ra một bộ móc khóa tự chế bằng thép mỏng. Ngón tay thô ráp của ông chuyển động cực kỳ uyển chuyển, nhẹ nhàng đưa thanh thép vào lỗ khóa đồng cổ. Ông áp tai vào cánh cửa gỗ, lắng nghe từng tiếng động cơ học cực nhỏ bên trong ổ khóa.
“Một chốt đã nhả...” ông Út khẽ nói, mồ hôi bắt đầu rỉ ra trên trán hòa cùng nước mưa. “Chốt thứ hai... từ từ thôi... loại khóa này rất nhạy cảm với lực mạnh...”
Bỗng nhiên, từ đầu ngõ sau vang lên một tiếng huýt sáo ngắn, sắc lẹm. Đó là tín hiệu báo động của Trọng xe ôm đang gác ở góc phố.
Tim Nam đập mạnh liên hồi. Anh khẽ ra hiệu cho Huy tắt đèn pin. Bóng tối đặc quánh của đêm bão lập tức bao trùm lấy ba người. Từ phía rặng tre ngà sát vách nhà cổ, tiếng bước chân lẹt quẹt trên nền đất bùn kèm theo tiếng chửi thề của hai gã đàn em Bảy Sẹo tiến lại gần.
“Mẹ kiếp, mưa to thế này mà đại ca bắt đứng canh cái nhà hoang. Thằng Nam rách ấy bị đánh gãy xương sườn hôm trước chắc giờ đang nằm thở oxy ở bệnh viện chứ dám vác mặt đến đây à?” một giọng nói khàn đặc vang lên cách cánh cửa gỗ chỉ chưa đầy ba mét.
“Cứ cẩn thận vẫn hơn. Sếp Hải bảo thằng này lì lợm lắm, trong tay gã đang giữ cái USB dữ liệu Core Banking gì đó. Nếu để gã tuồn được giấy tờ gốc của mụ Đàn ra ngoài, cả lũ chúng ta đi tù mọt gọng,” gã thứ hai trả lời, tiếng bật quẹt lửa tanh tách vang lên rồi tắt ngúm vì gió tạt.
Nam đứng im bất động trong bóng tối, nín thở. Cơn đau từ dẻ sườn trái giật lên dữ dội như muốn xé toạc lồng ngực anh, nhưng anh nghiến chặt răng, hai tay ghì chặt chiếc cặp da của cha trước ngực làm điểm tựa tinh thần. Anh tự nhủ bản thân phải chịu đựng, không được phép phát ra bất kỳ tiếng động nào.
Tiếng bước chân của hai gã giang hồ xa dần rồi mất hút sau khúc cua ngõ Hàng Bè. Ông Út thở phào một tiếng nhẹ nhõm, lập tức đưa thanh thép thứ hai vào ổ khóa.
*Cạch.*
Một tiếng cơ học giòn giã vang lên. Sợi xích sắt rỉ sét buông thõng xuống nền đất. Cánh cửa gỗ lim cổ kính từ từ hé mở, để lộ một khoảng tối om sực nức mùi ẩm mốc, mùi gỗ mục và bụi bặm hàng thập kỷ không có hơi người.
“Vào nhanh!” Nam khẽ nói, lách người qua khe cửa hẹp. Huy và ông Út lập tức bám theo phía sau, khẽ khàng khép cánh cửa gỗ lại để tránh lộ ánh sáng.
Không gian bên trong ngôi nhà cổ số 22 Hàng Bạc hoàn toàn tĩnh mịch, chỉ có tiếng mưa bão gõ liên hồi vào những tấm kính cửa sổ cao rộng kiểu Pháp. Nam bật chiếc đèn pin nhỏ, luồng ánh sáng trắng quét qua khoảng sân trong rụng đầy hoa lộc vừng đỏ sẫm dính bùn đất. Ngôi nhà hai tầng sơn vàng rêu phong hiện lên trầm mặc và u uất. Dưới gầm cầu thang gỗ lim uốn lượn cổ kính, chiếc tủ thờ gỗ gụ nặng nề chạm khắc hoa văn tinh xảo đứng sừng sững như một bức tường ngăn cách.
“Căn hầm nằm ngay dưới chân tủ thờ này,” Nam chỉ tay vào khoảng trống hẹp phía sau chiếc tủ thờ gỗ gụ. “Cụ Đàn nói ông nội cụ đã xây dựng nó làm kho cất giấu tài sản gia đình trong những năm kháng chiến chống Pháp. Nắp hầm được làm bằng gỗ lim cổ đã bị che lấp hoàn toàn.”
“Nặng quá, hai người chúng ta không thể dịch chuyển nó mà không gây ra tiếng động lớn đâu,” Huy khẽ đẩy thử chiếc tủ thờ gỗ nặng hàng trăm cân, sắc mặt anh trở nên lo lắng.
“Để tôi dùng kỹ thuật đòn bẩy,” ông Út nhanh nhẹn lôi từ trong túi đồ ra hai chiếc nêm gỗ và một chiếc xà beng nhỏ dắt bên hông. Ông khéo léo lách chiếc xà beng vào khe hở dưới chân tủ thờ, dùng lực tì nhẹ để tạo khoảng trống, rồi nhanh chóng đóng hai chiếc nêm gỗ vào dưới đáy.
Nam nén cơn đau buốt ở mạng sườn, ghé vai cùng Huy đẩy mạnh một góc tủ thờ. Thớ gỗ gụ cổ thụ cọ xát vào nhau phát ra những tiếng kêu kèn kẹt cực nhỏ. Dưới sức đẩy phối hợp chuẩn xác, chiếc tủ thờ gỗ gụ nặng nề từ từ dịch chuyển sang bên cạnh khoảng ba mươi phân, để lộ ra một nắp hầm bằng gỗ lim vuông vức, xám xịt vì bụi thời gian và rêu phong phủ kín.
Nắp hầm được khóa bằng một chiếc khóa đồng Pháp cổ rỉ sét loang lổ, xích sắt bám chặt vào khoen cửa hầm chôn sâu dưới nền gạch.
“Lại là khóa đồng ba chốt,” ông Út nheo mắt, quỳ sụp xuống nền đất ẩm mốc của gầm cầu thang. “Nhưng chiếc này đã bị rỉ sét ăn mòn phần lò xo pin bên trong. Nếu tôi dùng móc khóa thông thường, các chốt đồng sẽ bị gãy kẹt vĩnh viễn.”
“Có cách nào mở nhanh không chú Út? Thời gian của chúng ta không còn nhiều,” Huy liếc nhìn đồng hồ, trán anh lấm tấm mồ hôi. Đã trôi qua tám phút.
“Tôi phải dùng dầu bôi trơn và kỹ thuật dò pin cơ học ngược dòng,” ông Út lôi ra một lọ dầu máy nhỏ, nhỏ vài giọt vào lỗ khóa rỉ sét, rồi dùng chiếc búa gõ nhẹ lên thân khóa để dầu thấm sâu vào các lò xo bị kẹt. Sau đó, ông dùng một thanh thép mảnh có đầu dẹt khéo léo xoay nhẹ bên trong ổ khóa.
Nam quỳ bên cạnh ông Út, ánh mắt anh dán chặt vào từng chuyển động của người thợ khóa già. Căn hầm tối tăm dưới gầm cầu thang như đang tỏa ra hơi lạnh ẩm ướt thấu xương. Anh khẽ vuốt ve vết khâu chỉ dù thô kệch dính máu khô sẫm màu trên chiếc cặp da của cha. Anh như cảm nhận được linh hồn của người cha quá cố đang đứng bên cạnh bảo vệ mình, tiếp thêm sức mạnh tinh thần vượt qua nỗi đau thể xác.
*Tạch. Tạch.*
Tiếng lò xo đồng cổ rỉ sét chuyển động nghe nặng nề nhưng dứt khoát. Chiếc khóa đồng Pháp cổ cuối cùng cũng chịu nhả chốt. Ông Út dùng hai tay nhấc sợi xích sắt nặng nề ra khỏi khoen cửa hầm, khẽ thở phào một tiếng nhẹ nhõm.
Nam và Huy phối hợp dùng sức nhấc cánh cửa hầm bằng gỗ lim dày cộp lên. Một luồng khí lạnh ẩm mốc, thiếu oxy và sực nức mùi đất ẩm từ lòng đất xộc thẳng vào mũi khiến hai người phải quay mặt đi ho sặc sụa.
“Căn hầm sâu khoảng hai mét, có bậc thang gạch vồ đi xuống,” Nam soi đèn pin xuống lòng hầm tối đen. “Tôi sẽ xuống một mình để tìm chiếc hòm sắt. Anh Huy và chú Út ở trên này canh gác và hỗ trợ kéo hòm lên.”
“Nam, dẻ sườn của cậu đang bị thương nặng, để tôi xuống cho,” Huy ngăn lại, sắc mặt đầy lo lắng.
“Không, anh Huy. Chỉ có tôi mới nhận diện được chiếc hòm sắt cổ và gia phả dòng họ cụ Đàn. Hơn nữa, kết cấu hầm rất hẹp, dẻ sườn của tôi tuy đau nhưng dáng người tôi nhỏ hơn anh, dễ luồn lách dưới gầm hầm hơn,” Nam kiên quyết lắc đầu. Anh tháo chiếc cặp da của cha ra giao cho Huy giữ, chỉ cầm theo chiếc đèn pin nhỏ và leo xuống những bậc thang gạch vồ trơn trượt.
Lòng hầm tối tăm và chật hẹp, trần hầm chỉ cao khoảng một mét rưỡi khiến Nam phải khom lưng di chuyển. Những bức tường gạch vồ thời Pháp thuộc ẩm ướt, bám đầy rêu xanh và mạng nhện giăng kín. Dưới nền hầm ẩm mướt là đống thùng gỗ mục nát, chai lọ thủy tinh cổ và những chiếc hòm tre đã bị mối mọt ăn rỗng ruột.
Nam soi đèn pin đi sâu vào góc tối nhất của căn hầm, nơi đặt một chiếc tủ sắt gỉ sét loang lổ. Anh dùng tay gạt đi lớp tơ nhện dày đặc, phát hiện bên dưới chiếc tủ sắt là một khoảng đất nện bị đào bới dở dang. Chiếc hòm sắt rỉ sét dưới gầm cầu thang nhà cụ Đàn hiện ra, nửa thân chôn sâu dưới lớp đất ẩm.
Nam quỳ sụp xuống nền đất bùn lạnh ngắt, hai tay bới mạnh lớp đất sét xung quanh chiếc hòm sắt. Cơn đau từ mạng sườn trái giật lên buốt nhói theo từng động tác đào bới, mồ hôi lạnh chảy ròng ròng trên trán hòa cùng máu từ vết thương thái dương trái rỉ ra ướt đẫm băng gạc. Anh cắn chặt môi đến bật máu để không phát ra tiếng rên rỉ.
“Phải nhanh lên... không còn thời gian nữa...” Nam lầm bầm tự nhủ.
Chiếc hòm sắt cổ có kích thước khoảng bốn mươi phân, nặng trĩu vì rỉ sét và kết cấu thép dày của thập niên 1920. Trên nắp hòm có dập nổi hoa văn hình chiếc chìa khóa cổ và dòng chữ tiếng Pháp đã mờ nhạt: *“Propriété de la Famille Nguyễn”* (Tài sản của gia đình họ Nguyễn).
Nam dùng hết sức lực cuối cùng của hai cánh tay run rẩy, gồng mình nhấc chiếc hòm sắt nặng nề ra khỏi hố đất ẩm. Cơn đau thấu xương từ dẻ sườn khiến mắt anh hoa lên, suýt chút nữa ngã quỵ xuống nền hầm tối.
“Huy! Đỡ lấy hòm sắt!” Nam khàn giọng gọi lớn hướng lên phía miệng hầm.
Huy lập tức cúi người xuống, hai tay đón lấy chiếc hòm sắt rỉ sét từ tay Nam kéo mạnh lên trên nền gạch gầm cầu thang. Nam cũng dốc hết sức lực leo ngược lên những bậc thang gạch vồ, thở dốc khi bước ra khỏi căn hầm tối tăm thiếu oxy.
Ổ khóa của chiếc hòm sắt cổ này là loại khóa số cơ học ba đĩa xoay bằng đồng, đã bị rỉ sét ăn mòn và két chặt bởi đất sét ẩm.
“Chú Út, chiếc hòm sắt này có mở được tại chỗ không?” Nam vội vã hỏi, mắt anh đảo liên tục về phía cửa sau.
Ông Út đeo kính lão sát vào ổ khóa số, dùng chiếc kìm nhỏ gạt đi lớp đất sét bám trên các đĩa xoay đồng cổ: “Đĩa xoay đã bị kẹt cứng do rỉ sét ăn mòn lâu năm. Nếu tôi cố tình dùng lực xoay mạnh, các răng đồng bên trong sẽ bị gãy vỡ, chiếc hòm sẽ bị khóa chết vĩnh viễn. Tôi cần phải mang nó về tiệm, dùng dung dịch rã rỉ sét chuyên dụng và búa gõ siêu âm mới mở được an toàn mà không làm hỏng tài liệu bên trong.”
“Được, vậy chúng ta phải mang cả chiếc hòm sắt này đi ngay lập tức,” Huy quyết định dứt khoát, anh nhét chiếc hòm sắt vào một chiếc bao tải dứa màu xanh mang theo để ngụy trang.
Đúng lúc đó, từ đầu ngõ sau vang lên tiếng huýt sáo dồn dập, sắc lẹm liên tục ba lần của Trọng xe ôm.
Tín hiệu báo động khẩn cấp tối cao.
*Rầm! Rầm!*
Tiếng đập cửa chính dữ dội vang lên từ phía trước ngôi nhà cổ số 22 Hàng Bạc. Tiếng kìm cộng lực cắt xích sắt loảng xoảng kèm theo những tiếng chửi bới dồn dập của bọn giang hồ đàn em Bảy Sẹo vang lên xé toạc đêm bão tĩnh mịch.
“Mẹ kiếp! Có vết xích bị cắt ở ngõ sau! Thằng Nam bẩn thỉu đang ở bên trong! Phá cửa chính xông vào bắt sống nó cho tôi!” tiếng gầm rú hung hãn của tên Nguyễn Văn Hắc vang lên ngay sát thềm nhà cửa trước.
“Huy! Chú Út! Đi lối cửa sau ngay!” Nam vội vã giật lấy chiếc cặp da cũ của cha mang lên vai, hai tay ôm chặt lấy chiếc hòm sắt cổ bọc bao tải dứa trước ngực.
Huy và ông Út lập tức lao ra phía cửa sau. Cơn đau buốt từ chấn thương dẻ sườn trái khiến Nam loạng choạng, suýt ngã quỵ xuống thềm gạch. Anh cắn chặt răng, nén cơn đau thấu xương để giữ vững trọng tâm cơ thể, bước đi dứt khoát theo sau Huy.
*Rầm!*
Cánh cửa chính ngôi nhà cổ bị bọn giang hồ dùng búa tạ phá tung. Ánh sáng từ những chiếc đèn pin công suất lớn quét loang loáng vào sảnh chính ngôi nhà cổ, tiếng bước chân dồn dập của năm sáu gã tay sai Bảy Sẹo xông vào nhà vang lên như tiếng sấm nổ sát bên tai.
“Chúng nó chạy lối cửa sau rồi! Đuổi theo!” tiếng hét của tên Hắc vang lên đầy phẫn nộ khi gã phát hiện ra chiếc tủ thờ gỗ gụ bị dịch chuyển và nắp hầm mở toang.
Nam vừa ôm chặt chiếc hòm sắt cổ thoát ra lối cửa sau nhà cụ Đàn thì nghe tiếng bước chân dồn dập và tiếng chửi bới của bọn giang hồ đang phá khóa cửa trước xông vào nhà cổ. Anh khẽ khép cánh cửa gỗ ngõ sau lại, cài vội sợi xích sắt rỉ sét để trì hoãn đối thủ rồi lao thẳng ra chiếc xe Wave đang nổ máy chờ sẵn của Trọng dưới màn mưa xối xả.
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên!